Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2012

NHỮNG CÂU "ĐẮT GIÁ" NÊN HỎI NHÀ TUYỂN DỤNG

Gần cuối buổi phỏng vấn, nhà tuyển dụng (NTD) thường sẽ hỏi “Anh/Chị còn câu hỏi nào nữa không?” Đừng nghĩ đơn giản rằng đây là dịp để bạn tìm hiểu thêm về công việc. NTD đang tìm cách đánh giá sự sắc sảo của bạn đấy. Một ứng viên chỉ biết lắng nghe và trả lời lần lượt các câu hỏi phỏng vấn sẽ bị đánh giá là không có gì nổi bật. Vậy bạn sẽ đặt câu hỏi gì để NTD phải “vị nể” và đánh giá đúng tầm vóc của bạn?

1. Tìm hiểu về công ty
Hãy thể hiện mong muốn của bạn được làm việc lâu dài với công ty, rằng cái bạn cần không phải là một mức lương hậu hĩnh mà là một sự nghiệp lâu dài.
- Xin cho biết hướng phát triển của công ty trong 5 –10 năm tới?
- Xin cho biết thế mạnh của công ty chúng ta?
- Công ty có kế hoạch phát triển những sản phẩm chính nào trong tương lai?

2. Tìm hiểu về vị trí ứng tuyển
Những câu hỏi sau đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về bản chất công việc bạn ứng tuyển. Để tránh những hiểu nhầm đáng tiếc về sau, bạn nên trực tiếp hỏi nhà tuyển dụng về trách nhiệm công việc mà bạn sẽ đảm trách, về sếp quản lý trực tiếp của bạn:
- Xin cho biết các yêu cầu chính đối với ứng viên lý tưởng cho vị trí này?
- Để giúp tôi hiểu rõ hơn về công việc, xin cho biết trách nhiệm, thành công, kể cả khuyết điểm của người đã đảm trách công việc này trước đây?
- Xin cho biết ai sẽ là sếp trực tiếp của tôi?
- Nếu được nhận vào vị trí này, tôi sẽ đi công tác thường xuyên không?

3.Tìm hiểu hoạt động của các phòng ban 
Những câu hỏi này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn cơ cấu công ty và các phòng ban mà bạn sẽ làm việc sau khiphỏng vấn thành công.
- Có bao nhiêu phòng ban trong công ty? Xin cho biết mối liên hệ giữa các phòng ban này. 
- Bộ phận/Phòng ban của tôi sẽ giữ vai trò gì đối với sự phát triển chung của công ty?
- Xin cho biết thành công nổi bật của phòng ban mà tôi sẽ tham gia (nếu có cơ hội) trong những năm gần đây?

4. Thể hiện mong muốn phát triển sự nghiệp:
NTD nào cũng muốn biết liệu ứng viên có nhiệt tình gắn bó với công ty hay không. Vì vậy, bạn nên “đánh” vào tâm lý đó qua những câu hỏi thể hiện lòng nhiệt tình và tâm huyết của bạn:
- Nếu được tuyển vào vị trí này, tôi cần hoàn thành những mục tiêu nào trong 12 tháng tới?
- Ai sẽ là người trực tiếp đánh giá năng lực và thành quả làm việc của tôi? Việc đánh giá đó diễn ra bao lâu một lần?

Với những câu hỏi trên, bạn có thể đánh giá được vai trò và tầm quan trọng của công việc bạn ứng tuyển, xác định được hướng phát triển và cơ hội thăng tiến trong công ty. Từ đó, bạn có thể đưa ra quyết định chính xác cho sự lựa chọn của mình.

Cuối buổi phỏng vấn, bạn đừng quên chân thành cảm ơn và hỏi người phỏng vấn “Tôi có thể liên lạc lại với ông/bà được không?” Đó là câu hỏi cho thấy bạn rất quan tâm đến cơ hội được làm việc với công ty.

5P cho chiến dịch tìm việc nhé các bạn

Săn việc cũng giống như tiến hành một chiến dịch marketing tổng hợp (marketing mix) cho sản phẩm. Ở đây có đến 5 chữ P đại diện cho Positioning (định vị bản thân), Process (Nhận diện khách hàng mục tiêu – Nhà Tuyển Dụng tương lai), Persistence (kiên trì), Performance (chứng tỏ năng lực) và Personality (tính cách). Còn sản phẩm cần marketing là gì? Đó chính là bạn! Chỉ khi nào bạn tiến hành chiến dịch marketing cho bản thân một cách hiệu quả, bạn mới có cơ hội chinh phục được nhà tuyển dụng (NTD).

Positioning – Định vị bản thân 
Bước đầu tiên là xác định những yếu tố giúp bạn nổi trội so với các ứng viên khác. Điều này có thể không dễ dàng khi tự định vị chính mình. Vì thế, bạn có thể nhờ một cố vấn nghề nghiệp hoặc chuyên gia tư vấn nghề nghiệp đáng tin cậy giúp bạn. Đây là chữ P quan trọng nhất trong 5P.

Process – Nhận diện khách hàng mục tiêu: “Nhà Tuyển Dụng tương lai”
Nhận diện NTD mục tiêu, tìm hiểu nhu cầu tuyển dụng của họ và xem xét bạn có thể đáp ứng
những nhu cầu này như thế nào. Một khi nắm rõ nhu cầu của NTD và có thể chứng minh với họ bạn có đúng những kỹ năng họ đang cần, cơ hội bạn được mời phỏng vấn sẽ cao hơn rất nhiều so với việc bạn “khoe” tất cả kỹ năng của mình mà không cần biết chúng có phù hợp với công việc bạn đang nhắm đến hay không.

Persistence – Kiên trì 
Sự chú tâm, kiên nhẫn là yếu tố tối cần thiết để tìm việc thành công. Hãy tập trung vào những hoạt động có khả năng mang lại nhiều lợi ích cho bạn như duy trì tốt các mối quan hệ xã hội qua những phương tiện khác nhau: điện thoại, e-mail, thư tín, gặp gỡ trực tiếp… Hãy nhờ những bạn bè cho lời khuyên, giới thiệu bạn với những NTD để tiếp cận những thông tin về cơ hội nghề nghiệp. Nếu bạn được đồng nghiệp giới thiệu trực tiếp với NTD, cơ may bạn được họ chú ý sẽ rất cao.

Performance – Chứng tỏ năng lực 
Hồ sơ là phương tiện để bạn thể hiện khả năng, điểm mạnh và những kỹ năng của bản thân; nhưng “trăm nghe vẫn không bằng một thấy”. Hãy minh họa thật cụ thể những thành tích đạt được từ những khả năng, điểm mạnh và kỹ năng của bản thân. Một hồ sơ như thế sẽ thu hút sự chú ý của NTD và khiến họ muốn tìm hiểu nhiều hơn về bạn. Biết cách thể hiện năng lực trong hồ sơ là một yếu tố quan trọng giúp bạn giành được lợi thế trong một thị trường nhân lực cạnh tranh như hiện nay. 

Personality – Tính cách 
Hầu hết các công ty tuyển dụng nhân sự không chỉ dựa vào hồ sơ. Nếu bạn được mời phỏng vấn, hãy cố gắng thể hiện bản thân để NTD hiểu về tính cách của bạn và đặt lòng tin nơi bạn. Việc đạt được sự tin tưởng từ NTD có thể còn quan trọng hơn cả yếu tố kỹ năng và bằng cấp trong quá trình tuyển dụng. Hãy trao đổi với NTD một cách cởi mở, chia sẻ kinh nghiệm và quan điểm để hai bên có thể hiểu rõ nhau.

Chỉ khi bạn tiếp xúc trực tiếp với NTD, bạn mới có cơ hội chiếm được lòng tin từ họ - yếu tố quyết định trong quá trình tuyển dụng bạn. Và để nhận được lời mời phỏng vấn, bạn cần marketing bản thân một cách hiệu quả với bước quan trọng đầu tiên là định vị chính xác bản thân. Biết cách khai thác các ưu điểm để tạo nên sự khác biệt giữa bạn so với những ứng viên khác, cũng như lựa chọn NTD tương lai – người sẽ trân trọng những gì bạn đóng góp cho doanh nghiệp chính là chìa khóa giúp bạn thành công trong tìm việc. Một lưu ý nhỏ là bạn phải thực sự kiên trì vì một kết quả tốt đẹp luôn cần có thời gian. Hãy tiếp tục chiến dịch marketing của bạn cho đến khi bạn lọt vào “mắt xanh” của NTD tương lai nhé!

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

Ý nghĩa đằng sau mỗi câu hỏi phỏng vấn

Đọc rất nhiều nhưng không hiểu vào đầu các bạn được bao nhiêu ... nhỉ :D 

Có lẽ bạn đã quen thuộc với những câu hỏi phỏng vấn kiểm tra kinh nghiệm hay kiến thức chuyên môn. Đôi lúc bạn quá tập trung “phô diễn” kinh nghiệm mà thiếu sự chuẩn bị cần thiết cho những câu hỏi “dễ mà khó” khác. Dễ vì những câu hỏi này bạn vẫn thường gặp. Khó vì ẩn chứa đằng sau mỗi câu hỏi là một bài kiểm tra về thái độ, tính cách, khả năng chịu áp lực hay một số “bẫy” mà bạn không nhận ra.

Những câu hỏi kiểm tra mục tiêu nghề nghiệp và niềm đam mê:
1.    Vì sao bạn rời bỏ công việc hiện tại?
2.    Vì sao bạn muốn công việc này?
3.    Hãy mô tả công việc lý tưởng của bạn.
Dĩ nhiên phải có lý do bạn mới nghỉ việc. Nhưng bạn nhìn sự việc đó một cách tích cực hay tiêu cực? Bạn có xác định rõ ràng bước đi kế tiếp của mình hay chỉ muốn thoát khỏi công việc hiện tại? Nhà tuyển dụng (NTD) đánh giá cao những ứng viên có mục tiêu rõ ràng cho sự nghiệp và có thái độ tích cực. Niềm đam mê với công việc sẽ thể hiện qua ánh mắt, gương mặt và cảm xúc khi bạn nói về việc làm bạn yêu thích.

Những điều nên tránh:
-    Than phiền về công việc. Cho dù bạn chỉ muốn thoát khỏi công việc hiện tại càng sớm càng tốt, bạn cũng không nên than phiền vì chẳng ai muốn tuyển một người suy nghĩ tiêu cực vào đội ngũ của mình.

-    Không biết mình muốn gì. “Tôi muốn được thử thách” là một câu trả lời sách vở. Nếu NTD tiếp tục xoáy sâu vào câu trả lời này và bạn không đưa ra lời giải thích hợp lý, bạn sẽ bị mất điểm.

Những câu hỏi kiểm tra thái độ:
1.    Những thất bại/ thành công lớn nhất của bạn?
2.    Kiểu đồng nghiệp nào bạn ghét nhất?
3.    Mâu thuẫn gần đây nhất giữa bạn và đồng nghiệp là gì?
Kinh nghiệm có thể tích lũy, kỹ năng có thể rèn dũa, nhưng thái độ khó có thể thay đổi. NTD tìm kiếm những ứng viên có thái độ tích cực, chuyên nghiệp, sẵn sàng học hỏi và đam mê công việc hơn là những ứng viên nhiều kinh nghiệm, giỏi kỹ năng nhưng suy nghĩ tiêu cực, đố kị hay chỉ biết than phiền.

Những điều nên tránh:
-    Không thừa nhận sai lầm vì sợ bị đánh giá thấp. “Tôi chưa từng thất bại” là câu trả lời không thành thật. Tuy nhiên, nếu có nói về thất bại cũng đừng đổ lỗi cho sếp hay đồng nghiệp; hãy kể câu chuyện một cách khách quan, tích cực và đề cập những điều bạn đã học được từ thất bại đó.
-    Tạo ra câu chuyện không thật. Hãy kể câu chuyện của chính bạn. Nếu bạn chưa có một thành công lớn, hãy kể những kết quả nhỏ. Đừng cố lấy thành tựu của người khác và biến mình thành nhân vật chính. NTD sẽ nhận ra qua ngôn ngữ cử chỉ vì chỉ những ai kể câu chuyện của chính họ mới thể hiện được cảm xúc thật.

Những câu hỏi dưới dạng tình huống, kiểm tra khả năng ứng biến và tư duy logic:
1.    Nếu trở thành bộ trưởng giao thông vận tải, bạn sẽ làm điều gì trước tiên?
2.    Nếu không phải lo lắng về mặt tài chính, bạn sẽ chọn công việc gì?
3.    Giả sử bạn được tuyển, bạn sẽ làm gì trong 90 ngày đầu tiên?
Một số vị trí yêu cầu ứng viên khả năng chịu áp lực tốt và khả năng xử lý vấn đề nhanh nhạy. Cách kiểm tra khả năng này tốt nhất là đưa ra tình huống giả định để bạn xử lý. Quan trọng là bạn biết cách lý giải logic cho từng giải pháp vì không có câu trả lời đúng hay sai trong những trường hợp này.

Những điều nên tránh:

-    “Tôi chưa bao giờ ở trong tình huống này nên tôi chưa nghĩ ra mình phải làm gì.” Câu trả lời này sẽ đặt dấu chấm hết cho tất cả vì chẳng ai muốn có một nhân viên không có khả năng giải quyết vấn đề.
-    Suy nghĩ lâu vì bạn muốn 1 câu trả lời hoàn hảo. Trên thực tế không có câu trả lời hoàn hảo nên nếu bạn dành quá nhiều thời gian suy nghĩ, NTD sẽ đánh giá bạn không nhanh nhạy trong giải quyết vấn đề.

Những câu hỏi tìm hiểu sự phù hợp văn hóa:
1.    Như thế nào là một môi trường làm việc lý tưởng đối với bạn?
2.    Bạn thích cách quản lý như thế nào?
3.    Nếu có những lúc công việc yêu cầu bạn làm việc vào cuối tuần, bạn có đồng ý không?
Doanh nghiệp nào cũng muốn có được những nhân viên cùng chia sẻ giá trị với doanh nghiệp vì họ chính là những người sẽ gắn bó lâu dài và sẵn sàng vượt qua những thách thức để đạt mục tiêu chung.

Những điều nên tránh:

-    Đừng lý tưởng hóa môi trường làm việc vì không có môi trường nào là hoàn hảo. Bạn nên đưa ra tối đa ba điểm bạn đang tìm kiếm; và lắng nghe NTD chia sẻ. Đôi khi bạn sẽ thấy có những điểm không phù hợp với mong muốn của mình. Bạn hoàn toàn có quyền lựa chọn những nơi phù hợp nhất với mình.

-    Không có chính kiến. Nếu bạn không biết mình đang tìm kiếm điều gì, nơi nào sẽ giúp bạn phát huy tối đa khả năng cũng như đạt được mục tiêu nghề nghiệp trong tương lai, bạn không thể thuyết phục NTD bạn là một ứng viên tiềm năng.

Những câu hỏi về kỹ năng lãnh đạo:
1.    Bạn đã bao giờ cho 1 nhân viên nghỉ việc chưa? Vì sao?
2.    Bạn thường gặp khó khăn gì trong quá trình quản lý một nhóm?
3.    Nếu một người bạn của bạn vừa được thăng chức, anh ấy đến hỏi bạn 3 lời khuyên về kỹ năng lãnh đạo. Vậy bạn sẽ cho anh ấy 3 lời khuyên gì?
Lãnh đạo là kỹ năng quan trọng nhất của những vị trí quản lý. Doanh nghiệp có những nhà lãnh đạo giỏi ở vị trí chủ chốt sẽ thành công. Chính vì vậy, khi phỏng vấn cho những vị trí này, NTD sẽ luôn kiểm tra và đánh giá ứng viên thật cẩn thận.

Những điều nên tránh:
-    Coi thường nhân viên. Nếu bạn tỏ ra coi thường những nhân viên của mình chỉ vì họ chưa có kinh nghiệm hay phạm một sai lầm nào đó, bạn sẽ nhận điểm trừ. Một lãnh đạo giỏi không chỉ biết đem lại kết quả, mà còn phải xây dựng những mối quan hệ tích cực với nhân viên bằng niềm tin và sự nể trọng.

-    Bối rối vì không thể nghĩ ra bất cứ lời khuyên nào. Điều này chứng tỏ bạn có một chức danh quản lý nhưng chưa phải là một người lãnh đạo thực sự. Hãy gặp và nói chuyện nhiều hơn với những người bạn nể trộng họ vì khả năng lãnh đạo để học hỏi thêm.

-    Không thừa nhận khó khăn và sai lầm. Thừa nhận sai lầm ở vị trí lãnh đạo khó khăn hơn nhiều khi bạn ở vị trí nhân viên. Nhưng hãy thành thật với chính mình và chia sẻ những thất bại và bài học bạn không bao giờ quên. Chúng ta đều trưởng thành nhờ những sai lầm đó.

Thực tế là bạn sẽ “chạm trán” nhiều câu hỏi khác ngoài những câu hỏi trên. Mỗi câu hỏi đều ẩn chứa một ý nghĩa nhất định, giúp NTD chọn những ứng viên phù hợp nhất. Chính vì vậy, sự chuẩn bị nghiêm túc, kỹ lưỡng và thái độ tích cực chính là chìa khóa giúp bạn mở lối thành công trên con đường sự nghiệp.

Nhân Viên Mới - viết cho những Nhân Viên Mới, nhiều khi nghĩ mà buồn cười nhờ... 

Sáu điều kiện để có thương lượng lao động tập thể “thật”

Nếu nhìn vào luật quan hệ lao động của bất cứ nước nào thì ta cũng thấy có bốn cấu phần không thể thiếu được trong luật đó: thứ nhất là phần về công đoàn (một số luật thì bao gồm cả quy định về giới chủ, nhưng không phải luật nước nào cũng có vì thực tế tổ chức này không phải là điều kiện tiên quyết cho quan hệ lao động tập thể); thứ hai là đối thoại, thương lượng và thỏa ước lao động tập thể; thứ ba là tranh chấp lao động và đình công và thứ tư là các thiết chế quan hệ lao động (các thiết chế có thể thành một phần riêng hoặc “lẩn” vào các phần khác của luật).

Sáu điều kiện để có thương lượng “thật” và thỏa ước “thật”

Điều kiện thứ nhất: hai bên, nhất là bên đại diện cho tập thể người lao động phải có đủ tư cách đại diện. Đây là điều kiện quan trọng nhất vì nếu người đứng ra thương lượng mà không có đủ tư cách đại diện cho tập thể người lao động thì mọi điều khoản đưa vào trong thỏa ước sẽ trở nên vô nghĩa, không có giá trị đối với người lao động vì người lao động sẽ không làm theo những gì mà người không đại diện cho mình đã đứng ra cam kết. Đây là điều hết sức lưu ý khi làm luật và chính sách để thấy sự khác biệt giữa “có” và “có thật” đối với tổ chức đại diện cho người lao động là một sự khác biệt rất lớn. Chúng ta có thể thấy những quy định rất rõ ở trong Sắc lệnh 29 của Cụ Hồ cũng như luật của Căm pu chia về vấn đề này. Điều kiện này tôi gọi là điều kiện tiền đề cho hoạt động đối thoại, thương lượng và thỏa ước, hay gọi theo ngôn ngữ toán học thì gọi là “điều kiện cần”, trước khi nói tiếp đến các “điều kiện đủ” ở phần sau.

Điều kiện thứ hai: hai bên phải có mong muốn (thiện chí) thương lượng. Nếu một trong hai bên không có mong muốn hoặc thiện chí thương lượng thì thương lượng thật sẽ rất khó xảy ra, mà nếu xảy ra thì cũng chỉ là hình thức, không dẫn đến kết quả. Về bản chất thì thương lượng và ký thỏa ước là việc tự nguyện, cũng như mình đi chợ thì cái chuyện có mặc cả hay không là chuyện của mình thôi, không ai bắt cả. Trong cuộc sống thật thì rất hay xảy ra việc người lao động thì muốn, còn người sử dụng lao động thì có thể không muốn thương lượng. Mặc dù luật đã quy định là khi một bên yêu cầu thì bên kia phải ngồi vào thương lượng. Nhưng ngồi vào mà trong lòng không muốn thì kết quả sẽ rất khó đạt được. Bởi vậy, thuật ngữ quan hệ lao động có một từ riêng là “thương lượng một cách thiện chí” (negotiation in good faith). Luật quan hệ lao động nhiều nước cũng quy định điều này. Ngoài quy định của luật pháp thì những áp lực của xã hội, của tập thể người lao động, của Chính phủ hay của cộng đồng doanh nghiệp đóng góp đáng kể cho việc hình thành ý thức thương lượng của cả hai phía.

Điều kiện thứ ba: hai bên phải có vị thế thương lượng bình đẳng, độc lập với nhau.Thương lượng sẽ không thể có kết quả thực sự nếu một trong hai bên không có vi thế thương lượng. Nếu một cuộc thương lượng được tiến hành như vậy thì kết quả sẽ là sự áp đặt chứ khó có thể nói đó là kết quả của sự thỏa thuận. Những nỗ lực hỗ trợ của công đoàn ngoài doanh nghiệp chính là làm tăng thêm sự tự tin, ý thức bình đẳng và độc lập của đại diện tập thể người lao động trong quá trình thương lượng.

Điều kiện thứ tư: hai bên phải có đủ năng lực, đủ kỹ năng để thương lượng. Khi đã ngồi vào bàn thương lượng, hai bên phải có đủ năng lực và kỹ năng để thực hiện chức năng của mình, bao gồm việc xây dựng phương án đàm phán, kỹ năng tiến – lùi, gây sức ép hay mềm mỏng, linh hoạt trong đàm phán,..để đạt mục tiêu đề ra. Những hoạt động tập huấn kỹ năng thương lượng, đàm phán cho các bên trong quan hệ lao động là để hỗ trợ cho việc này. Ngoài ra, sự hỗ trợ trực tiếp của công đoàn ngoài doanh nghiệp (và của hiệp hội doanh nghiệp) là cần thiết để bổ sung cho sự thiếu hụt về năng lực cho hai bên trong thương lượng.

Điều kiện thứ năm: hai bên phải có đủ năng lực và vị thế kiểm soát việc thực hiện thỏa thuận. Đây là một điều kiện quan trọng. Nếu bên đứng ra thương lượng không có đủ năng lực để kiểm soát những cam kết của mình thì khi đó việc thương lượng là vô nghĩa. Ví dụ đại diện tập thể người lao động đạt được thỏa thuận với người sử dụng lao động về một điều khoản nào đó, nhưng sau đó tập thể người lao động lại tự phát tổ chức đình công về chính nội dung đó thì việc đàm phán cũng như ký thỏa ước trở nên mất ý nghĩa.

Điều kiện thứ sáu: hai bên có thể có được sự hỗ trợ từ bên thứ ba cho quá trình thương lựơng nếu có yêu cầu. Đây nên hiểu chỉ là điều kiện bổ sung, nhưng là một bổ sung cần thiết vì thương lượng giữa hai bên tại doanh nghiệp nhiều trường hợp trở thành thương lượng giữa hai bên có quyền lợi xung đột nhau. Trong trường hợp đó, sự tham gia của bên thứ ba với tư cách trung gian hòa giải sẽ giúp hai bên thu hẹp khoảng cách khác biệt để đạt được thỏa thuận. Đây là hoạt động được sử dụng khá phổ biến ở các nước có quan hệ lao động phát triển (hoạt động trung gian hòa giải).

Đôi điều rút ra

Từ việc phân tích 6 điều kiện nói trên, ta thấy việc có được thương lương “thật” để có thể ký được những bản thỏa ước lao động tập thể “thật” không hề đơn giản.

Thứ nhất, nếu không có chủ thể đại diên thực sự cho người lao động thì không thể có thương lượng và thỏa ước thật. Đây là điều kiện mang tính tiên quyết, tiền đề cho đối thoại, thương lượng và thỏa ước lao động tập thể. Nếu chỉ  “có” mà không “thật” thì không thể xảy ra thương lượng và thỏa ước thật.

Thứ hai, để có được các điều kiện còn lại về thiện chí, vị thế, năng lực của hai bên thì sự hỗ trợ của tổ chức công đoàn cấp trên, của tổ chức giới sử dụng lao động, áp lực của cộng đồng xã hội và đặc biệt là vai trò hỗ trợ của chính phủ là hết sức quan trọng. Cơ sở luật pháp cộng với những tác động từ những thiết chế này thì mới tạo nên được một hệ 6 điều kiện nói trên, bao gồm 1 điều kiện cần và 5 điều kiện đủ để có thể có được thương lương thật và thỏa ước thật.

Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, cá nhân tôi vẫn cho rằng không nên đưa mục tiêu số lượng thỏa ước là mục tiêu phấn đấu, mà hãy tập trung vào gây dựng 6 điều kiện trên. Khi đã hội tụ đủ 6 điều kiện thì thỏa ước thật dứt khoát sẽ xảy ra. Còn khi điều kiện, nhất là điều kiện thứ nhất còn thiếu mà cứ muốn có nhiều thỏa ước, mà lại là thỏa ước thật thì đây có thể là mục tiêu không tưởng.

st từ Blog của Nguyễn Mạnh Cường - mình rất thích blog của chú này :)) - rất có tính định hướng, chỉ tiếc là lâu rồi chả có mấy bài mới.