Thứ Tư, 7 tháng 12, 2016

Làm sao để khuyên người nhà hoan hỷ học Phật

LÀM SAO ĐỂ KHUYÊN NGƯỜI NHÀ HOAN HỶ MÀ HỌC PHẬT?

Ngày nay chúng ta thấy được có nhiều đồng tu đối với người nhà quyến thuộc hết sức quan tâm lo lắng cho con đường mai sau của họ. Có rất nhiều bạn đồng tu đến nói cho tôi hay:

_ " Tự tôi tu học có được lợi ích thật sự của Phật pháp, còn người nhà tôi vẫn chưa học Phật, tôi rất muốn người nhà của mình cũng được hưởng cái lợi ích này. Thế nhưng họ chẳng những không tiếp nhận, mà thậm chí khi nhìn thấy tôi học Phật người nhà còn ra sức bài xích phản đối".

Kỳ thật trong chuyện này thì ai đúng, ai sai vậy? Là chính mình đã sai rồi. Nếu như anh là người thật sự y theo lời Phật dạy trong Kinh điển mà tu hành, thì tôi tin rằng người nhà nhìn thấy anh, ai ai cũng đều tán thán, ai ai cũng đều hoan hỷ, tuyệt đối sẽ chẳng bài xích, chẳng phản đối anh. Nếu họ đối với anh có ác cảm bài xích thì nhất định là vì những việc thường ngày anh làm đó đều chẳng như pháp. Thế nào là chẳng như pháp? Từ lời nói, suy nghĩ, kiến giải, hành động của anh đều đi ngược lại với những gì Phật tại trong Kinh dạy đó, thì là chẳng như pháp.

Vào thời kỳ đệ nhị thế chiến, khi chúng ta đánh nhau với người Nhật, gia đình ông Hà Thế Lễ cư ngụ tại Hồng Kông hết sức giàu có, rất nhiều năm được Hoàng Gia Anh Quốc phong cho địa vị Huân Tước, ở Hồng Kông mọi người đều gọi ông là Huân Tước Hà Đông. Cả nhà ông đều nhận được sự giáo dục của thời đại mới, lại là tín đồ Thiên Chúa giáo thuần thành, nhưng mẹ ông ta lại là Phật giáo đồ lão thật niệm Phật ăn trường chay. Người nhà tuy rằng là tín đồ Thiên Chúa giáo, thấy bà theo Phật giáo hằng ngày niệm Phật ăn chay như vậy, họ cũng chẳng bài xích, chẳng phản đối, bởi vì người trong gia đình ông đối với người mẹ này hết sức hiếu thuận. Cụ bà đến lúc vãng sanh thì mới tụ tập người trong gia đình, quyến thuộc, bạn bè thân thích lại, bà nói với con trai và con dâu rằng:

_ " Hôm nay, mẹ phải đi đến Tây Phương Cực Lạc Thế Giới. Người nhà chúng ta một đời tín giáo tự do chẳng có trở ngại. nhưng hôm nay các con cũng nên niệm vài câu Phật hiệu để đưa tiễn mẹ đi, thì kể như trọn vẹn tình nghĩa trong một đời này mẹ con chúng ta sống chung một nơi".

Sau khi bà dứt lời, mọi người liền đồng niệm Phật để đưa tiễn bà ra đi. Bà ngồi xếp bằng niệm Phật chưa đầy 15 phút thì đi mất. Bà cũng chẳng khuyên con trai, con dâu, và cháu phải tin Phật. Con trai và con dâu nhìn thấy mẹ mình ra đi tự tại và tiêu sái như vậy, từ đó về sau họ không đến giáo đường nữa, đều ở nhà lão thật niệm Phật. Bà ta chính là hiện thân mà nói pháp, đem một nhà cả thẩy đều độ hết cả. Ngày thường bà chẳng khuyên mọi người niệm Phật, vì biết được dù có khuyên cũng vô dụng, cho nên không cần thiết phải tranh luận, đến lúc lâm chung thì mọi người cứ nhìn xem cái dáng vãng sanh của ta đây. Có thể nói chiêu này của bà lão là hết sức cao minh.

Nói đến việc học Phật và tin theo Phật thì mỗi một người đều có thời tiết nhân duyên khác nhau, việc này không thể cưỡng cầu mà được. Cho nên, khi chúng ta khuyên người nhà học Phật mà họ nhất mực cự tuyệt thì cũng không nên lấy đó mà buồn bực. Chúng ta hãy cứ chăm chỉ tu học cho thật tốt, phải tu cho ra được cái dáng của người trong nhà Phật đó là tự tại, thanh tịnh, từ bi, bình đẳng, và hạnh phúc. Khiến cho mọi người nhìn vào thấy được quả thật là học Phật có lợi ích thật sự, từ đó họ sanh ra cái tâm ngưỡng mộ đối với Phật pháp. Từ chỗ ngưỡng mộ đó họ dần khởi lên cái tâm muốn học Phật, muốn được tắm mình trong ánh sáng giác ngô của Phật pháp. Đây chính là tự mình làm chứng minh, làm gương mẫu để cho người khác xem, cũng chính là cái ý nghĩa của việc thắp đèn cúng Phật là tự thiêu đốt chính mình để chiếu soi cho kẻ khác vậy.



NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT🙏🏻🙏🏻🙏🏻


_ Pháp sư Tịnh Không_

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2016

Thập thiện nghiệp

Thơ thiền thập thiện nghiệp, những nghiệp không nên phạm phải của người tu học

THẬP THIỆN NGHIỆP

1. Không sát sinh thân hình khỏe mạnh
Họa tránh xa, mọi việc hanh thông
Luật đời - Nhân Quả mà trông
Đã không gây ác, thì không khổ sầu.

2. Không trộm cắp, trở nên giàu có
Của nhiều, bền, tốt, đẹp do ta
Trí Nhân, phúc đức mà ra
Thân mà thanh tịnh, nhà nhà an vui.

3. Không tà dâm, cuộc đời đức hạnh
Trừ si mê mọi sự hanh thông
Thân rèn vững như thành đồng
Trong ngoài kính trọng, vợ chồng hòa vui.

4. Đừng nói dối, mà đời lắm tội
Chẳng khôn nào thắng nổi thật thà
Nói năng chớ có điêu ngoa
Thì vui tìm đến, quỷ tà bỏ đi.

5. Đừng thêu dệt nói chi sai quấy
Nịnh người này, tâng đẩy kẻ kia
Gây ra huyễn hoặc, chia lìa
Cho người đau khổ, mình thì sao đây?

6. Đừng nói lưỡi hai chiều đòn xóc
Trước mặt khen, đâm thọc sau lưng
Như dao hai lưỡi vẩy vung
Hại người chưa kịp, nó tung hại mình.

7. Đừng sân hận sinh lời hung ác
Vạn ngục tù tạo tác từ đây
Nhu hòa nhẫn nhục mà xây
Trái oan hóa giải, thù nay bạn hiền.

8. Đừng tham lam trí liền sáng tỏ
Tư duy minh hiểu rõ đúng sai
Công phu tu thiện miệt mài
Chính kiến mà giữ, ác sai không hành.

9. Đừng giận hờn, là hơn mọi lẽ
Rõ đúng sai, trí lại tỏ tường
Khiêm cung, tôn kính dựa nương
Từ - bi - hỷ - xả là đường ta theo.

10. Đừng si mê là gieo trí sáng
Trừ vô minh, xứng đáng thượng căn
Chớ tin số mệnh, quỷ hành
Chỉ tin thiện ác tác thành từ tâm.

-st
💛ST

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2016

Tu học: Bậc Đại Nhân

Sao ta chưa thể sống an lạc như các bậc đại nhân.. Trong đời sống hàng ngày, ta có cảm giác cô đơn là do ta có tầm nhìn hạn hẹp. Tầm nhìn của ta hạn hẹp là do ta cố chấp, thành kiến, không chịu lắng nghe và học hỏi. 

Ta càng ích kỷ bao nhiêu thì tầm nhìn của ta càng hạn hẹp bấy nhiêu. Và tầm nhìn ta hạn hẹp bao nhiêu, thì những cảm giác cô đơn và cô độc sinh khởi nơi tâm thức ta và nơi đời sống của ta bấy nhiêu. 

Ta đừng bao giờ bảo rằng, giữa đời nầy không có ai hiểu ta, và nếu ta muốn người khác hiểu ta, thì trước hết ta phải hiểu người khác; ta muốn người khác thương ta, thì trước hết, ta phải thương người khác; ta muốn người khác tôn trọng ta, thì trước hết ta phải biết tôn trọng người khác.

Nếu ta không hiểu người khác mà mong người khác hiểu ta; ta không thương người khác mà mong người thương ta; ta không tôn trọng người khác mà mong người khác tôn trọng ta, là những điều chưa bao giờ xảy ra trong thế gian này. Chính những cảm giác cô đơn của ta từ đó mà sinh khởi. 

Nếu ta không hiểu người khác mà người khác hiểu ta, cái hiểu ấy là cái hiểu của những bậc đại nhân; nếu ta không thương người khác mà người khác thương ta, cái thương ấy là cái thương của những bậc đại nhân; nếu ta không tôn trọng người khác mà người khác tôn trọng ta, cái tôn trọng ấy là của những bậc đại nhân.

Những bậc đại nhân là ai?

Đó là những người ở trong đời, cũng ăn như ta, cũng uống như ta, cũng đi, đứng, nằm, ngồi, nói cười, sinh hoạt như ta, nhưng họ khác ta là do họ có tầm nhìn lớn, họ có tâm hồn lớn, nhưng những nhu cầu tiêu thụ cho đời sống của họ thì lại rất ít và họ lại chín chắn, cẩn trọng để làm chủ tâm trong những hành xử nhỏ nhặt hàng ngày đối với bản thân họ và mọi người, vì vậy mà họ là bậc đại nhân. 

Những bậc đại nhân thì không nhìn đời bằng nhận thức mà bằng tuệ giác; không thương đời bằng cảm tính mà bằng từ bi; không đối đãi với đời bằng sự tương quan mà bằng xả lợi.

Do đó, bậc đại nhân đi đến đâu cũng an toàn và sống với ai cũng an lạc.

Tu học

Thầy Thái Hòa



Soi Lòng

Có đôi lúc ta cần nên thận trọng
Ngồi lắng nghe dư luận nói về mình.
Không lệ thuộc trước những lời hư vọng,
Chẳng coi thường bao góp ý công minh..

Vì..” không lửa thì làm sao có khói! ”
Nên lắng lòng xem xét lẽ thực, hư.
Và cười nhẹ, khi biết mình không lỗi
Hiểu thêm rằng.. dư luận vốn luận dư..

Khi cầm mảnh gương soi vào tâm khảm
Ta biết mình đẹp, xấu, đục hay trong?
Vườn tâm địa giăng mắc nhiều cỏ dại
Mà cũng không thiếu vắng những hoa hồng.

– Thánh nhân nào mà không mang quá khứ
Tội nhân nào chẳng thể có tương lai!
Chính vì vậy, nhủ lòng luôn khoan thứ
Kiếp con người ai thoát khỏi lầm sai ?

Sau mưa gió bên kia trời ửng nắng
Sau lỗi lầm, cay đắng, trưởng thành hơn.
Điều quan trọng là tự tri, vượt thắng.
Những đam mê, giới hạn của tâm hồn.

Thường soi bóng bên dòng sông tâm niệm
Nếu ta cười.. ảnh hiện nụ cười ta
Cùng thế ấy, luôn sống đời hướng thiện
Vững tin mai Hạnh phúc lại trao quà.

Có đôi lúc ta hãy nên nhìn ngắm
Thế gian này bằng đôi mắt trẻ thơ.
Để nghe tiếng Thương yêu từ sâu thẳm
Chỉ cái nhìn nhân thế hết bơ vơ..


Thích Tánh Tuệ

Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2016

Sám hối Thai nhi

Dưới đây là nội dung bài Sám Hối Thai Nhi được sưu tầm từ facebook phật tử Diệu Huyền, người đã nhiều năm làm công việc quy tập và an táng các thai nhi sản nạn. Tôi xin mạn phép chia sẻ lại tại Blog này của mình để những người hữu duyên đọc và hành trì


SÁM HỐI THAI NHI

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần)
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. (3 lần)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (3 lần)
Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (3 lần)

Xin chứng giám cho Đệ tử tên…..pháp danh…..Trước đây do vô minh, ngu si, con đã từng lỡ dại phá bỏ chai nhi, từ chối sự hiện diện của các con mình mà không hề biết sự đau khổ của các con. Bây giờ được học Phật, con đã hiểu rõ và tin vào Nhân Quả, con vô cùng ăn năn hối hận trước những việc mình đã làm. Con sai rồi! Nay con xin chân thành sám hối tất cả những tội lỗi mà con đã tạo tác. Đệ tử nguyện từ giờ trở đi không còn tái phạm việc sai trái này nữa.

Các con của mẹ! Mẹ đã nhận ra những lỗi lầm từng gieo cho các con. Mẹ hoàn toàn không biết rằng những gì mình đã làm gây cho các con quá nhiều đau khổ, làm cho hồn nhi phải cô đơn, oán trách, vất vưỡng, đói khát, lạnh lẽo. Bây giờ biết được Phật pháp, mẹ mới hiểu ra được sự tồn tại của con đến từ lúc vừa hình thành tổ hợp thai, nên vô cùng ăn năn hối hận, xót xa trong lòng, lương tâm cắn rứt. Xin hãy tha thứ cho mẹ, xin trẻ đừng oán hận mẹ nữa. Đúng là cho dù bất kỳ lý do gì cũng không thể chấp nhận được ác nghiệp này. Nhân Quả là do mẹ tự làm tự chịu. Mẹ chỉ biết sám hối cùng các vong nhi, hàng ngày cố gắng tích đức tu thiện, đem tất cả công đức những việc thiện lành để hồi hướng cho các con. Nguyện cho trẻ có thể nghe thấy những lời mẹ sám hối, cùng mẹ niệm Phật mà phát nguyện cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Về đó tương lai mẹ con cùng hội ngộ, vĩnh viễn lìa khổ được vui.

Nguyện Đức Từ Phụ A Di Đà Phật xót thương tiếp dẫn tất cả các vong linh thai nhi trên toàn thế giới này mà bị cha mẹ vô minh, ngu si phá bỏ đều được vãng sanh về thế giới an lành nơi Cực Lạc.

Nguyện cho tất cả những ai đã, đang và sẽ phá thai hãy dừng lại ác nghiệp này.

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát.”
—————————————-
Sau khi chí thành, tha thiết đọc những lời sám hối này xong thì bạn hãy niệm Phật từ 1.000 – 5.000 câu Phật hiệu.

Niệm Phật xong thì hồi hướng:
“Nguyện đem công đức này. Trang nghiêm Phật Tịnh độ. Trên đền bốn ơn nặng. Dưới cứu khổ ba đường. Nếu có ai thấy nghe. Đều phát tâm Bồ-đề. Hết một báo thân này. Đồng sanh nước Cực lạc. Nam Mô A Di Đà Phật”.
————————————–
Sau khi sám hối thai nhi xong, nhất định xin đừng tái phạm lỗi lầm nữa. Hàng ngày bạn làm bất kỳ việc thiện gì hãy nên hồi hướng cho các vong nhi, không những vậy mà hãy mở rộng tâm từ bi ra hồi hướng luôn cho tất cả những vong nhi toàn thế giới này nữa, bạn sẽ thấy tâm mình dễ chịu hơn bao giờ hết.

Các bạn nam, nữ xin hãy cẩn trọng trong mối quan hệ của mình. Xin hãy gìn giữ sự trong sáng để không phạm phải lỗi lầm này, lương tâm sẽ rất khổ, quả báo cũng rất lớn. BẠN NAM, BẠN NỮ, NGƯỜI XÚI GIỤC, LẪN BÁC SĨ PHÁ THAI ĐỀU PHẢI CHỊU QUẢ BÁO. Đây không phải là sự hăm dọa mà chỉ là sự tha thiết mong bạn hãy biết Tin sâu Nhân Quả. Gieo nhân thiện, ắt có quả thiện; và gieo nhân ác, chắc chắn sẽ gặp ác báo; cho dù bạn có Tin hay không Tin thì Quả_báo vẫn diễn ra. Vì có lợi hay bất lợi cho bạn đều do chính bạn tự làm tự chịu mà thôi.

Nguyện cho những ai đã từng phạm phải sai lầm này có thể hồi đầu sám hối. Những người chưa từng gây lỗi, đọc được bài viết này có thể nhân cơ hội mà tránh không phạm vào những ác nghiệp như thế này.
Nam Mô A Di Đà Phật.

P/s: Hình ảnh an táng ngày 13/1/2016

 

NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI ĐẠI TỪ ĐẠI BI A DI ĐÀ PHẬT

Thứ Bảy, 12 tháng 11, 2016

Nghiệp, và những điều bạn chưa biết

Không phải cứ không biết là sẽ không có tội. Những hậu quả của nghiệp lực rất rõ ràng: các hành vi xấu luôn luôn gây khổ và hành vi tốt luôn luôn mang lại an lạc hạnh phúc. Nếu bạn hành thiện sẽ được an lạc; làm ác,chính bạn sẽ chịu khổ. Hành nghiệp của chúng ta sẽ đeo đuổi ta từ kiếp này sang kiếp khác. Điều này giải thích tại sao có người không ngớt làm ác lại vẫn công thành danh toại trên phương diện thế tục hoặc lắm kẻ khác dốc lòng tu hành thì lại phải đối đầu với muôn vàn khó khăn khốn khổ. Hành nghiệp đã tạo tác từ vô số kiếp; vì thế, có vô số tiềm năng trong vô số nghiệp báo.

Tiềm năng của nghiệp thức luôn luôn gia tăng theo thời gian. Hạt giống nhỏ có tiềm năng đơm kết trái lớn. Điều này cũng đúng đối với nhân quả nội tại,cho dù hành vi nhỏ cũng có thể mang đến ảnh hưởng tốt hoặc xấu to lớn. Ví dụ như: một cậu bé có lần đã từng lấy nắm cát cúng dường lên Phật và quán tưởng như kim sa. Cậu bé đó là vua Asoka[1]. Một hành động tốt nhỏ nhất cũng có thể mang đến một kết quả là niềm hạnh phúc lớn lao nhất; đồng thời, một hành động xấu nhỏ nhất cũng có thể mang lại sự đau khổ mãnh liệt nhất. Nghiệp lực trôi chảy trong nội tâm của ta gia tăng bội phần hơn tiềm năng của những nguyên nhân vật lý, như hạt giống trái táo chẳng hạn. Những hành động nhỏ nhất nếu tạo tác liên lỉ có thể khỏa đầy tâm thức chúng sanh như một giọt nước có thể dần dần châm đầy bình.

Trong xã hội loài người, ta thấy có rất nhiều sai biệt. Có người luôn thành công trong đời sống, lắm kẻ luôn thất bại. Có người sung sướng, có người trông có vẻ được yên ổn may mắn và an định tâm hồn. Lắm kẻ dường như luôn phải đối diện với những bất hạnh lớn lao, khác với dự đoán của chúng ta. Có người, bạn mong sao họ gặp tai ương thì họ lại bình an vô sự. Tất cả điều đó, đều nói lên rằng không phải mọi sự việc đều nằm trọn trong tay ta. Khi bắt đầu một dự án nào đó, đôi khi ta cố gắng hết sức, tích lũy mọi điều kiện cần thiết để đạt đến thành công, nhưng vẫn bỏ sót một vài việc nào đó. Ta bảo người này hên. Người kia kém may mắn. Nhưng chỉ thế thôi vẫn chưa đủ; vận may chắc chắn phải có lý do và nguyên nhân. Theo lối giải thích của Phật giáo, đây là kết quả của những hành vi tạo tác trong đời quá khứ hoặc đã tạo trước đây ngay trong đời này. Khi tiềm năng chín mùi, tuy đang đối đầu với nghịch cảnh nhưng bạn vẫn thành công. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp khác, dù tập hợp được mọi điều kiện cần thiết nhưng bạn vẫn cứ thất bại.

Tương lai và đời sau sẽ được ích lợi nếu bạn biết tích tập một cách chân xác các hành vi lương thiện như tránh sát sanh mà lại phóng sanh; hoặc bồi dưỡng hạnh nhẫn nhục đối với tha nhân. Trong khi ấy, nếu cứ mãi cuốn hút theo những hành vi bất hảo thì chắc chắn bạn sẽ gặp quả báo trong tương lai. Nếu không tin theo định luật của nghiệp báo thì bạn có thể hành động tùy theo sở thích.

Một khi đã tạo nghiệp, nghiệp nhân tương ứng sẽ lưu lại và gia tăng cho đến khi nghiệp báo hiện tiền. Nếu chưa từng tạo nghiệp thì bạn sẽ không bao giờ gặt quả báo. Một khi đã tạo nghiệp rồi thì nghiệp quả sẽ ứng hiện trừ phi bạn thanh tịnh hóa nó xuyên qua các tiến trình tu hành thỏa đáng. Hoặc đối với một hành vi đạo đức, thì nghiệp quả cũng sẽ ứng hiện và nó chỉ hủy diệt trừ phi có một sự cuồng nộ hay nguyên nhân đối kháng nào đó. Ảnh hưởng của nghiệp[2] dù tạo tác từ nhiều đời trước sẽ không bao giờ phôi pha theo thời gian cả.

Nghiệp tốt hay xấu đều được định đoạt từ chính sự tác ý của ta mà ra.Nếu tác ý tốt thì mọi hành động đều lương thiện; nếu tác ý sai lầm, mọi hành động đều trở nên xấu ác. Hành nghiệp có nhiều hình tướng khác nhau; có nhiều loại nghiệp thuần thiện, có nhiều loại hoàn toàn bất thiện và có loại nghiệp lẫn lộn cả hai. Dù hành động dường như biểu lộ hình tướng khá dữ dội bạo động, nhưng nếu tác ý chân chánh thì nó vẫn mang đến an lạc hạnh phúc. Trong khi ấy, nếu tác ý sai trái và bất chánh thì dù cho hành động dường như hữu ích và tốt đẹp nhưng thật tế vẫn sẽ mang đến nghiệp báo xấu. Tất cả đều tùy tâm: nếu tâm bạn đã thuần thục và khéo huân tập rồi thì mọi hành động đều trở nên chánh đáng tốt đẹp. Trái lại, nếu tâm bạn chưa được thuần thục, lại còn thường xuyên ảnh hưởng bởi tham dục và sân hận, thì tùy việc làm dường như chánh đáng nhưng thực tế bạn vẫn sẽ tiếp tích tập nghiệp báo xấu. Nếu càng có nhiều người hơn tin vào phép tắc nghiệp báo thì ta có thể tuyệt đối không cần đến lực lượng cảnh sát hay những chế độ hình phạt. Dù trên hình thức ngoại tại, người ta có thể áp dụng đủ loại kỹ thuật để chấp pháp nhưng nếu thiếu mất niềm tin nội tại đối với các hành nghiệp thì cũng không thể mang đến một xã hội hòa bình được. Trong xã hội hiện đại, máy móc tối tân phức tạp được dùng để kiểm soát theo dõi và nhận diện những kẻ phạm pháp. Nhưng dụng cụ càng tinh vi tối hảo thì tội phạm càng trở nên giải hoạt ngoan cố hơn. Nếu muốn cải thiện xã hội nhân loại thì tăng cường pháp luật ngoại tại không thôi vẫn chưa đủ; chúng ta cần có sự tiết chế nội tâm.

Chúng ta có thể tạo nghiệp qua ba cửa ngõ: thân, ngữ, và ý. Qua các cửa ngõ này, ta có thể tạo hoặc thập thiện nghiệp hoặc thập bất thiện nghiệp. Trong các bất thiện nghiệp có ba việc thuôc về thân, bốn việc thuộc về khẩu và ba việc thuộc về ý. Việc phạm tội thứ nhất do thân gây ra là sát sanh. Để tạo nên tội sát sanh, đương nhiên phải có sự liên quan đến một sanh mạng nào khác. Còn tự sát là một trường hợp biệt lệ vì không liên quan gì đến những kẻ khác. Nếu bạn khởi lên tâm niệm muốn hạ sát một kẻ nào đó, nhưng bạn lại giết lầm người khác; hành động này hoàn toàn chưa phải là một bất thiện nghiệp đối với tội sát sanh. Mặt khác nếu trong tâm thức vốn có sẵn động cơ sát hại muôn loài, và bạn sẵn sàng giết bất cứ ai bạn gặp; trường hợp này đã xác định rõ rệt, hoàn toàn đây là một bất thiện nghiệp của tội sát sanh.

Sát sanh có thể vì tam độc: tham, sân, si mà ra. Ví dụ: vì tham ăn thịt mà ta có thể sát sanh, vì sân mà ta có thể giết địch thủ và vì si mà ta giết thú để cúng tế. Bất kể là bạn đích thân tạo nghiệp hoặc xúi dục người khác tạo nghiệp đều gây nên nghiệp ác sát sanh như nhau. Để cho hành vi sát sanh rõ ràng hoàn thành, người bị giết chắc chắn phải chết trước hung thủ.

Nghiệp ác thứ nhì do thân tạo ra là trộm cướp. Trộm cướp có thể thúc đẩy vì tham hoặc giả vì sân hận mà muốn hãm hại người nào. Trộm cướp cũng có thể do si, vì lầm tưởng rằng bạn có thể cướp lấy bất cứ gì mình muốn. Chủ tâm là muốn khai phân vật sở hữu và chủ sở hữu. Trộm cướp có thể thực hành bằng bạo lực hoặc do lén lút; hoặc do bạn vay mượn xong, chờ chủ nhân quên rồi giữ lại luôn cho mình; hoặc mượn tiền không chịu trả. Hành động trộm cướp được kể như hoàn tất khi bạn có ý nghĩ rằng món đồ vật giờ đây thuộc về mình. Dù chính bạn không trực tiếp mà để cho kẻ khác làm dùm mình vẫn bị xem như tội trộm cướp.

Nghiệp cuối cùng trong ba nghiệp ác của thân là tà dâm. Đó là liên hệ sinh lý với một người không thích hợp, thực hiện tại một cơ phận không thích hợp; vào một thời giờ không thích hợp; tại một điểm không thích hợp hoặc vi phạm ý muốn của người khác-đương nhiên là bao gồm cả việc hãm hiếp. Đối với người đàn ông thì người đàn bà không thích hợp bao gồm mẹ mình; vợ hoặc người yêu của kẻ khác; cô gái giang hồ do người khác trả tiền thuê bao, thân quyến của chính mình hoặc những người nữa đã xuất gia như các ni sư. Cũng bao gồm luôn cả những người đàn ông khác. Những cơ phận không thích hợp trong thân thể là hậu môn và miệng. Những nơi chốn không thích hợp là chung quanh tịnh thất của sư phụ mình, gần tháp miếu hoặc ngay trong chùa hoặc ngay trước mặt cha mẹ mình. Thời gian không thích hợp đối với người đàn ông là khi người đàn bà đang thời kỳ kinh nguyệt, lúc mang thai và khi người đàn bà đang vướng phải một chứng bệnh mà sự giao hợp làm cho bệnh trở nên trầm trọng. Nếu người đàn ông giao hợp sinh lý theo những cách trên thì dù với chính vợ mình vẫn kể là tà dâm. Thông thường mà nói, sự giao hợp là do từ tham luyến, nhưng người ta vẫn có thể giao hợp vì sân hận ví dụ như người đàn ông ngủ với vợ của kẻ thù của hắn. Có lúc cũng do vì vô minh mà nghĩ rằng sự liên hệ sinh lý có thế giúp con người đạt đại giác ngộ. Nghiệp xấu của hạnh tà dâm chỉ do mình tự tạo và hành động trở nên cụ thể khi có sự va chạm giữa hai cơ quan sinh dục.

Bốn loại nghiệp xấu kế tiếp là khẩu nghiệp. Trước tiên là vọng ngữ; bao gồm việc nói những ngôn từ trái với điều đã thấy, đã nghe và đã biết. Vọng ngữ có thể do bởi tham, sân hoặc si. Chủ tâm là gây hoang mang cho người khác,có thể diển đạt bằng lời nói, gật đầu hoặc chỉ cần ra một dấu tay. Bất cứ hành động nào có chủ ý làm người ta hoang mang đều tạo nên nghiệp xấu vọng ngữ. Và nếu người khác nghe thấy những vọng ngữ này, điều đó đã làm cho hành động vọng ngữ được thành hình. Tiếp theo, là nói lời chia rẽ ly gián. Chủ tâm là gây sự bất hòa phân tranh giữa bạn bè hoặc tăng đoàn vì quyền lợi của chính mình hoặc vì quyền lợi của người khác. Dù một người nào đó có thành công hay không trong việc tạo ra sự phân tranh bất hòa thì hành động ly gián của họ hoàn tất ngay trong phút giây mà người khác nghe được những lời nói chia rẽ này.

Kế tiếp là ác ngữ. Chủ tâm là nói lời thô ác, và nghiệp ác ngữ sẽ hoàn tất ngay khi người bị nói xấu nghe được những lời mắng nhiếc nhắm đến họ. Gièm pha nói xấu bao gồm những lời sỉ nhục người khác, chỉ trích lỗi lầm người ấy dù đúng hay sai. Nếu người nào sử dụng ngôn ngữ ác độc để gây tổn thương cho người khác, đó gọi là ác ngữ. Kế tiếp là ỷ ngữ (nói chuyện thị phi). Ỷ ngữ là nói chuyện thị phi bỉ thử do một trong tam độc[3] thúc đẩy. Chủ đích đơn giản là chỉ muốn hàn huyên vô cớ hặn nhàn đàm tâm sự không mục đích. Ỷ ngữ không cần có người thứ hai. Bạn chẳng cần có một người tri âm, bạn có thể nói lời ỷ ngữ (lời thị phi) bằng cách nói chuyện với chính mình. Nhàn đàm vô ích bao gồm việc bàn luận chiến tranh thời sự, việc lỗi lầm của kẻ khác hoặc biện luận chỉ biện luận thôi. Cũng bao gồm luôn việc đọc các loại sách không quan trọng gì cả, các loại sách vô bổ mất thì giờ chỉ vì ái chấp.

Sau cùng là ba nghiệp xấu được tạo ra bởi ý, điều đâu tiên là tham dục. Đối tượng của tham dục là vật sở hữu của người khác. Phiền não cổ súy cho lòng tham dục có thể do tam độc tham, sân si gây nên. Hoàn thành việc làm bất thiện này liên hệ đến năm yếu tố: tham chấp mãnh liệt tài vật của người khác; ý đồ tích chứa của cải; dã tâm thèm muốn tài vật người khác; muốn giựt của cải người khác tạo thành của riêng mình; không trông thấy được sự nguy hại vì thèm khát tài vật của người. Nếu hội đủ năm yếu tố này khi người ta ao ước thèm khát vật gì đó thì hành vi tâm lý này (tham dục) đã hoàn thành.

Kế đến là tâm sân hận; tâm sân hận tương tự như ác ngữ, chủ đích là do ý muốn gây thương tổn cho người; hoặc là nói lời ác ngữ hoặc là mong cầu người ta gặp hoạn nạn tai ương và bị thất bại, hỏng việc. Một khi bị cuốn hút theo tâm niệm như vậy thì cũng đã hoàn thành nghiệp sân rồi. Điều này (nghiệp sân) cũng đòi hỏi cần phải có năm yếu tố:

1/phải có động cơ căn bản là lòng sân hận hoặc lòng phẫn nộ.

2/thiếu tinh thần nhẫn nhục.

3/không tri nhận được những lỗi lầm của sự giận dữ.

4/cố tình hãm hại kẻ khác.

5/không tự tri nhận rằng nếu bạn chỉ cần thấu hiểu được những hậu quả tai hại của tâm sân hận không thôi, thì sự tri nhận này cũng đủ sức giúp bạn chế ngự được ý muốn hãm hại kẻ khác rồi.

Chỉ cần bạn đơn thuần mong muốn người khác gặp khổ đau ách nạn, đó chính là tâm sân hận.

Hành vi cuối cùng trong mười hành vi bất thiện là tà kiến hoặc chấp kiến (tức là bám víu một cách ngoan cố vào những tri kiến sai lầm); những điều này có nghĩa là bạn phủ nhận bản tánh tồn tại của các pháp hiện hữu. 

Thông thường có bốn loại tà kiến: tà kiến đối với nhân; tà kiến đối với quả; tà kiến đối với tác dụng của các pháp và tà kiến đối với sự hiện hữu của một vật thể. Đối với tà kiến về nhân thì tin rằng không có hành nghiệp; đối với tà kiến về quả thì tin rằng có những hành vi nào đó không tạo ra nghiệp báo; tà kiến đối với tác dụng của các pháp thì nghĩ rằng con cái không phải do cha mẹ nuôi nấng, và hạt giống không thể kết trái và cũng nghĩ rằng không có tiền kiếp hoặc không có đời sống sau khi chết. Tà kiến thứ tư là tà kiến đối với sự hiện hữu của mọi vật thể do vì vô minh và tham chấp mà tin tưởng rằng các bậc A La Hán, Niết Bàn và Tam Bảo đều không hiện thực. Ngài Tsong Kha Pa nói rằng: mặc dù có nhiều loại tà kiến khác nhau nhưng các tà kiến này thật sự cắt đứt mọi cội rễ tích lũy công đức của con người và chính vì lý do đó đã khiến cho người ấy bị cuốn hút theo các hành vi bất thiện một cách không kiềm chế nổi. Vì thể, tà kiến không tin Tam Bảo và tà kiến không tin luật nhân quả được gọi là tà kiến lớn nhất.

Chúng ta cũng nên biết rằng có sự sai biệt nặng nhẹ trong các #hành nghiệp. Khi hành vi được thôi thúc bởi những phiền não mãnh liệt thì hành vi này được gọi là hành vi vô cùng nghiêm trọng. Phương thức hành vi tạo tác cũng quyết định mức độ khinh trọng của nghiệp. Ví dụ như một cuộc mưu sát được diễn ra trong tâm thức hân hoan, trước tiên là tra tấn, rồi chế giễu và phỉ báng người ta thì cuộc mưu sát này được gọi là cuộc mưu sát rất nghiêm trọng vì con người đã bị giết một cách vô nhân đạo. Nếu kẻ sát nhân không có lương tâm và không có ý thức hổ thẹn thì hành vi sát sanh ác độc này được kể là rất nghiêm trọng bởi vì hắn đã đánh mất khả năng hoặc lực lượng đối trị. Nếu sát sanh vì do ngu si, với mục đích sát sanh để làm tế phẩm chẳng hạn và nghĩ rằng hành động sát sanh này thật sự là một nghi lễ tôn giáo chứ không phải là một hành vi xấu ác thì theo kinh dạy, nghiệp tạo ra xem như rất nghiêm trọng.

Thông thường, nếu bạn tái phạm một vài hành vi nào đó càng nhiều lần thì nó càng trở nên nghiêm trọng hơn. Nghiệp lực nặng hay nhẹ cũng còn tùy thuộc kẻ tạo tác. Nếu bạn hồi hướng công đức do sự phúc lợi của chúng sanh để tầm cầu chứng ngộ, kinh dạy, năng lực sẽ mạnh mẽ hơn. Trong khi ấy, nếu hồi hướng công đức do mục tiêu thấp kém hơn, kinh dạy, năng lực cũng sẽ yếu hơn. Điều này cũng còn được áp dụng cho hành vi bất thiện nữa. Phiền não càng thôi thúc dữ dội chừng nào thì hành nghiệp càng gia tăng mạnh mẽ chừng ấy; và trong tất cả các phiền não này thì sân hận được kể là loại phiền não mạnh mẽ nhất. Một niệm sân rất nhỏ đối với một vị Bồ Tát sẽ thiêu hủy mọi công đức tích tụ từ ngàn kiếp của bạn.

Quả báo của những hành vi bất thiện dựa trên cường độ của các phiền não đã xúi giục sai sử chúng. Cũng có các quả báo tương ứng với các loại nghiệp nhân. Ví dụ: vì đã từng sát sanh, con người sẽ bị đọa sanh vào các cảnh giới thấp kém; sau đó dù màng được thân người nhưng thọ mạng cũng sẽ rất ngắn. Bởi vì đã từng trộm cướp nên sẽ thiếu thốn vật chất. Bởi vì tà dâm nên sẽ có người phối ngẫu không trung thành. Bởi vì ác ngữ nên người ta sẽ nhục mạ bạn. Bởi vì nói lời ly gián nên bằng hữu bất hòa chia rẽ v.v…Một loại quả báo khác là cách hành xử theo bản năng bẩm sinh. Bởi vì đời trước sát sanh, cho nên dù được đầu thai làm người nhưng vẫn tự nhiên có tính tình rất xung động và thích giết chóc. Cũng có loại quả báo tùy theo hoàn cảnh và môi trường; loại quả báo này chín mùi và tích lũy chung cho cả tập thể cộng đồng. Ví dụ như, do bởi sát sanh mà một người đã sinh sống ở vùng lúa mạ trái trăng không được xum xuê dồi dào, làng cùng hẻo lánh, khí hậu không tốt, đầy dẫy cây độc gai góc. Bởi vì trộm cướp nên gặt quả báo làm người nông phu bị thất mùa. Bởi vì tà kiến mà có quả báo phải chịu hoàn cảnh thiếu sự cứu hộ và không nơi nương tựa.

Nếu do nhờ giới luật mà con người có thể tự kềm chế và không đắm chìm vào các hành vi xấu ác; ngược lại còn quyết tâm không để dính líu vào những sự kiện như thế thì người đó đã tích lũy được nhiều thiện hành. Nếu không đủ sức hoặc không có khả năng để tạo tác ác nghiệp nhưng vì đạo đức nên tự chế không làm mới được kể là tích tụ thiện hành.

Tuy hành vi đã tạo tác rồi nhưng không phải do cố ý; ví như ngộ sát, sát sanh trong giấc mộng, hoặc làm những việc trái với ý nguyện cá nhân; trong những trường hợp như vậy, hành động tuy đã tạo tác nhưng nghiệp vẫn không tích lũy. Do vì thiếu yếu tố cần thiết là sự chủ tâm cố ý nên nghiệp báo của hành động cũng không thành hình. Mặt khác nếu bạn cưỡng bách người nào phải dính líu đến các hành động bất hảo thay thế cho bạn thì nghiệp xấu tích tụ là do từ bạn mà ra.

Nghiệp quả có thể ở đời này, đời sau hoặc cách khoảng nhiều đời mới chín mùi. Một vài hành động quá trọng đại gây ra do sự vô minh và sân hận kịch liệt nên được xem như rất trầm trọng và đã mang đến quả báo ngay trong hiện đời. Các hành vi tốt đẹp tích cực cũng thế. Nếu cưu mang bi tâm lai láng đối với tất cả chúng sanh, nếu vững tâm quy y Tam Bảo và đền đáp ân đức sư trưởng cùng cha mẹ mình thì hoa trái của các hành động này được kể là quá thù thắng đến nỗi chúng sẽ khởi sự chín mùi ngay trong hiện kiếp.

Mang được thân người chủ yếu là do trì giới thanh tịnh và tự chế không tạo mười ác nghiệp. Tuy nhiên để có được thân người với nhiều trợ duyên ưu đãi giúp vượt tiến trên quá trình tu hành thì vẫn phải cần đến các nhân tố khác nữa. Điều này bao gồm cả việc sống lâu để hành trì Phật pháp một cách viên mãn. Cũng đồng thời cần bổ túc thêm; nếu có được thân hình tráng kiện, trang nghiêm, khỏe mạnh, lại sanh trưởng trong một gia đình tôn quý; đương nhiên bạn sẽ tạo được niềm quy ngưỡng lớn lao từ tất cả mọi người và gây được sức ảnh hưởng rất to lớn. Trong kinh điển có đề cập đến nhân tố khác, đó là ngôn từ đáng tin cậy và thân tâm cường tráng để tránh không bị công kích bởi những sự hỗn mang khuấy phá. Chỉ cần thoáng trông thấy bạn, thì với nhân dáng thu hút, bạn sẽ không khó khăn gì trong vấn đề thu nạp đệ tử và tạo cho họ vững tin nơi bạn. Khi thuộc dòng dõi của một gia đình tôn quý, mọi người sẽ lắng nghe và lưu tâm đến lời khuyên của bạn hơn. Bằng sự giúp đỡ vật chất cho nhiều người, bạn có khả năng phối hợp đông đảo quần chúng với sức ảnh hưởng của bạn và với ngôn từ đáng tin, bạn sẽ làm cho quần chúng tin tưởng vào lời nói như thật của bạn. Những gì bạn nói đều có thể thành tựu sớm sủa đúng theo ý nguyện chẳng khác nào như chiếu chỉ của một vị quốc vương. Trước đám đông, bạn không còn sợ sệt hay rụt rè khi giảng pháp cho họ. Và cũng sẽ có rất ít chướng ngại trong việc tu hành. Nhờ thân tâm vững mạnh, bạn có thể nhẫn chịu được sự thử thách cam go của thể xác và cũng không còn hối hận hoặc gặp bất cứ chướng ngại nào trong nỗ lực đạt được bất cứ ước nguyện gì của mình và của người.

Mỗi một trong những ưu điểm khác nhau này đều do một #nghiệp #nhân đặc thù của nó. Nhân trường thọ là do hằng thường có thái độ vị tha giúp ích, không bao giờ gây thương tổn cho kẻ khác. Thân thể cường tráng khỏe mạnh là do cung cấp quần áo mới cho người và kềm chế không nóng giận. Sanh trưởng trong gia đình tôn quí là do nhân luôn luôn khiêm cung, tuyệt đối không cao ngạo và tự xem mình như tôi tớ cho sư trưởng và cha mẹ của mình. Nhân đại phú là do #bố_thí tài vật cho người nghèo, và nhân có lời ăn tiếng nói uy tín là do kềm chế #khẩu_nghiệp. Gây được nhiều uy tín ảnh hưởng sâu sa là do nhân cúng dường Tam Bảo và cha mẹ sư trưởng mình v.v…Có thân tâm vững mạnh là bởi cung cấp thức ăn vật uống cho người. Bạn sẽ có một thân người đặc biệt hy hữu với nhiều ưu điểm kể trên nếu bạn tích tập các nghiệp nhân vừa dẫn.

Nếu cứ trì trệ biếng nhác, không chịu suy gẫm kỹ càng về luật nghiệp báo, có thể ta tự cho rằng mình chẳng làm gì xấu ác và tự cho mình là một người tu hành đạo hạnh. Tuy nhiên, nếu tự phân tích cặn kẽ những ý nghĩ và việc làm của mình thì sẽ khám phá rằng hằng ngày ta đang vướng vào những lời nói vô căn cứ gây tổn thương cho người; hoặc đang vướng vào lỗi tham đắm. Ta sẽ khám phá rằng mình thật sự thiếu mất yếu tố hành đầu cần thiết của lòng tín tâm vững vàng kiên định để có thể tuân thủ pháp tắc nghiệp quả một cách chân chính. Ngay bây giờ ta cần tri nhận được sự khác biệt và khiếm khuyết giữa việc tu hành theo pháp Phật và phương thức sinh sống thường nhật. Hãy liên kết tầm hiểu biết về luật nhân quả với việc làm của bạn để kết thúc sự dị biệt này. Nếu tri nhận được mối nguy hiểm tiềm ẩn trong đường lối tư duy và hành động thì ta sẽ không ngừng bồi dưỡng quyết tâm nhằm sửa đổi cách cư xử và ý tưởng của ta. Ngài Tsong Kha pa dạy rằng:vì đã liên kết quá lâu với những phiền não nên dù chúng ta có tận sức để không vướng mắc vào các hành vi bất thiện, tuy nhiên đôi khi ta tự phát hiện ra rằng mình không thể nào tự chủ được để tránh tạo tác thêm nhiều hành vi bất thiện. Ta không nên khinh xuất đối với những chuyện như vậy. Trái lại hãy dấn bước theo những phương pháp thanh tịnh hóa do chính đức Phật khuyến dạy. Ta có thể thanh tịnh hóa và khắc phục điều xấu ác đã tạo bằng cách áp dụng bốn oai lực đối trị. 

Đầu tiên là sám hối lực[4]. Bằng cách tư duy đến tính cách nghiêm trọng về quả báo của các hành động xấu ác, bạn nên phát khởi nỗi niềm ân hận sâu xa về những hành vi đã tạo ngay tự đáy lòng mình. 

Thứ hai là thanh tịnh lực[5], có thể đạt được xuyên qua nhiều phương pháp khác nhau bao gồm việc thọ trì đọc tụng kinh điển, quán tu lý không tánh, trì chú, đắp tạo Phật tượng, cúng dường, xưng tán danh hiệu chư Phật. Những pháp tu thanh tịnh này cần phải cương quyết thực thi cho đến khi bạn thấy được dấu hiệu và triệu chứng thành công. Những dấu hiệu ấy bao gồm mộng thấy ói mửa; mộng thấy uống sữa bò hoặc sữa đặc; mộng thấy mặt trời và mặt trăng; mộng thấy bay bổng hay lửa cháy hay chế phục các bò rừng hay người mặc áo choàng đen; mộng thấy các vị tăng ni; mộng thấy trèo núi; và mộng thấy nghe kinh. Những điều đó đều là triệu chứng thành công trong pháp tu thanh tịnh.

Thứ ba là năng lực quyết tâm không tạo tác nghiệp ác[6] trong tương lai. Nếu có năng lực quyết tâm và tự khắc chế không tạo mười ác nghiệp; không những bạn có khả năng thanh tịnh hóa sự tiêu cực của mười ác nghiệp không thôi mà bạn còn có khả năng thanh tịnh hóa phiền não và các dấu ấn do phiền não để lại. Nếu năng lực quyết tâm của bạn rất phiến diện thì pháp tu thanh tịnh cũng sẽ cạn cợt. Năng lực sau cùng là quán tưởng quy y Phật, Pháp và Tăng và vì phúc lạc cho mọi loài chúng sanh mà phát nguyện thành tựu quả vị giác ngộ.

Nếu ác nghiệp đã tạo mà không hề thanh tịnh hóa thì sẽ tạo nên cơ duyên thác sanh vào cảnh giới thấp kém. Ác nghiệp có thể được hoàn toàn thanh tịnh hóa trong ý nghĩa là tiềm năng của nó hoàn toàn tận diệt, hoặc duyên thác sinh vào những cảnh giới thấp hơn cũng đã tận diệt duy chỉ còn một vài việc rắc rối đau đầu đơn giản trong đời này. Đó là, bất cứ hành vi xấu ác nào vốn phải thời gian dài mới sanh ra kết quả, nhưng nay trong thời gian ngắn nghiệp báo đã chiêu cảm rồi. Kết quả còn tùy theo pháp tu thanh tịnh của hành giả có thiện xảo chăng, tứ oai lực có hoàn bị không và đồng thời sự hạ thủ công phu của hành giả có dõng mãnh không và pháp tu tịnh trị kéo dài bao lâu rồi. Trong vài trường hợp, nghiệp chiêu cảm đã bị hủy diệt; trong vài trường hợp khác vẫn còn thọ nhận một vài chiêu cảm nhẹ hơn. 

Bạn chớ nên xem như điều này mâu thuẫn với lời dạy trong kinh điển rằng nghiệp đã tạo tác không bao giờ xóa nhòa được mức độ chiêu cảm dù cả trăm kiếp. Điều này có nghĩa là nghiệp đã tạo ra chưa được thanh tịnh hóa thì không bao giờ có thể phôi pha được tiềm năng chỉ vì thời gian trôi qua. Không có hành động nào mà không thể thanh tịnh hóa được. Sự thanh tịnh hóa sẽ giúp diệt trừ tất cả mọi tiềm năng chiêu cảm gây nên từ các nghiệp xấu; cùng thế ấy, mọi hành động thiện hảo cũng đều bị giảm mất sức chiêu cảm khi khởi lên một niệm sân. Nhưng Đức Phật đã dạy rằng bạn không bao giờ thanh tịnh hóa được hành nghiệp một khi nó đã tạo thành kết quả. Ví dụ: những kinh nghiệm tiêu cực xấu trong hiện đời là quả của hành vi xấu đã tạo từ quá khứ; những nghiệp quả đã diễn ra rồi, bạn không thể tịnh trừ chúng được. Ngài Tsong Kha pa bảo rằng: những thiện nghiệp có thể vì các nhân tố đối kháng như sân hận mà mất hẳn năng lực; cho nên ta không chỉ cẩn trọng để tích tập công đức không thôi; mà còn cần phải bảo vệ các công đức đã tích tập được một cách hết sức thận trọng nữa. Điều này thực hiện được bằng cách hồi hướng công đức để thành tựu sự chứng ngộ cho mục đích thượng cầu Phật quả. Kinh dạy rằng một khi bạn đã hồi hướng công đức để đạt đến những mục tiêu như vậy thì chỉ khi nào đã đạt thành viên mãn rồi, các thiện nghiệp bạn tạo mới không bao giờ bị mất hẳn tiềm năng của nó. Chẳng khác nào như đã ký thác tiền bạc vào ngân hàng thì bạn rất yên tâm đối với giặc cướp-giặc cướp ở đây là tham, sân si.

Dù ta có thể thanh lọc hoàn toàn mọi xấu ác và hủy diệt tiềm năng mang lại các hậu quả đáng sợ của nó xuyên qua cách vận dụng các lực lượng đối trị thích nghi nhưng chỉ cần đơn giản không phạm vào các ác nghiệp từ lúc đầu thì vẫn tốt hơn rất nhiều. Do vậy, tốt hơn hết là bạn không nên phạm vào và không bao giờ để cho nội tâm bị vây bẩn bởi những ác nghiệp như vậy. Ngài Tsong Kha pa nói rằng cũng tương tợ như một người bị gãy chân; sau đó, lành lại nhưng quả thật chiếc chân bị gãy khác xa so với chiếc chân chưa hề bị gãy bao giờ.

Có lẽ có người nghĩ rằng vì lý do trong một số kinh điển khác có đề cập đến sự phú quý và các quyền lợi của kiếp sống hiện nay trong vòng luân hồi như những đối tượng cần phải xả bỏ và khước từ, nên một hành giả nào đó còn có ý nguyện đạt được hình thức tồn tại lương hảo là điều không thích hợp. Đây là thái độ rất sai lầm. Tâm nguyện mà chúng ta vừa nói gồm có hai loại; chí nguyện tạm thời và chí nguyện cứu cánh. Chí nguyện tạm thời bao gồm sự truy cầu thân người quí giá trong kiếp tới. Dựa vào thân người quí giá như vậy bạn có thể liên lỉ tu hành Phật pháp để cuối cùng đạt thành chí nguyện cứu cánh, đó là sự thành tựu giác ngộ. Tuy rằng đối với một Đại thừa hành giả; mục đích cứu cánh là muốn nỗ lực đạt được Nhất Thiết Trí nhằm mưu cầu phúc lợi cho quần sanh. Nhưng cũng đồng thời rất cần thiết cho vị hành giả này nguyện cầu đạt được một sự tái sanh tốt đẹp trong đời vị lai, như có được một thân người chẳng hạn để vị ấy có thể tiếp tục tu hành. Ngài Tịch Thiên nói rằng: thân người quí giá cần được nhớ nghĩ như chiếc thuyền vượt ngang qua biển luân hồi. Để đạt đến mục đích cứu cánh thành tựu cảnh giới Nhất Thiết Trí, bạn phải có được thân người hiếm quí này trong rất nhiều kiếp. Đạt được hình thức tái sanh tốt đẹp như vậy, nguyên nhân cơ bản là do trì giới.

Đối với đa số nhiều người, quả thật khó khăn để bỏ hẳn thế gian sau khi họ phát nguyện tu hành. Người tu hành tốt nhất là xả bỏ mọi sinh hoạt thế gian, hy hiến cuộc đời còn lại của mình ở một nơi biệt lập đơn độc để tu hành. Điều này đáng khen ngợi và có nhiều đại lợi ích nhưng rất khó để tu như vây đối với đa số nhiều người trong chúng ta. Bạn phải lo nghĩ về chúng cuộc đời của mình, làm việc trong cộng đồng và phục vụ cho nhân quần nữa. Bạn không nên hoàn toàn bận lòng với mọi sinh hoạt thế tục mà hãy dùng nhiều năng lực và thời gian để tu hành ngõ hầu cải thiện đời sau. Bạn sẽ bắt đầu liễu ngộ rằng mọi hành sự trong hiện đời không đến nỗi quan trọng lắm so với vận mệnh tương lai.



Bạn có thể sẽ có được một cuộc chuyển sanh tốt đẹp ở đời vị lai do sự quy y và phụng hành giáo pháp theo luật tắc nghiệp báo; bằng nỗ lực từ bỏ các hành động xấu ác và tích tập những hành vi lương thiện. Tuy nhiên, vì vấn đề chuyển sanh thích hợp là một vấn đề còn nằm trong phạm vi luân hồi mà bản chất của luân hồi là “khổ” nên ta không nên lấy đó làm thỏa mãn. Trái lại, ta hãy bồi dưỡng sự nhận thức rằng mọi hình thức hiện hữu trong vòng luân hồi đều mang tính chất “khổ não”. Từ vô thỉ đến nay, ta từng quen thuộc với tâm chấp thủ đối với sự sung mãn của luân hồi mà chẳng hề liễu tri được rằng sự khoái lạc của luân hồi là: một sự khổ đau đích thực. Cho đến ngày nào mà các phạm nhân chưa hiểu rằng mình đang bị giam cầm và cũng chẳng tri nhận được rằng cuộc đời trong ngục thất rất khó và rất khổ để nhẫn chịu thì họ sẽ vẫn không phát khởi niềm ước mong chân thật để được thoát khỏi vòng lao ngục ấy. Luân hồi cũng vậy, cho đến khi nào mà bạn chưa nhận thức được các khiếm khuyết của đời sống trong vòng tuần hoàn hiện hữu này, thì bạn sẽ chẳng bao giờ chân chánh phát nguyện đạt được Niết Bàn tức là giải thoát khỏi luân hồi.

Bạn không nên có quan niệm sai lầm rằng Phật giáo là đạo bi quan yếm thế. Trái lại, Phật giáo rất lạc quan bởi vị mục đích mà mỗi cá nhân nhắm đến, đó là sự chứng ngộ viên mãn hầu có thể đạt được một niềm an lạc toàn bích và vĩnh cửu. Phật giáo gợi nhắc chúng ta rằng mỗi người đều có thể đạt thành mục đích tối thượng này. Những khoái lạc nhất thời của luân hồi dường như có vẻ vui thú, nhưng chúng không thể thỏa mãn chúng ta được, cho dù ta có được hưởng thụ lâu đến cách mấy đi nữa. Chúng chẳng bền vững vì chúng dễ biến hóa thay đổi. Trái lại, với cứu cánh thường hằng và vĩnh cữu của an lạc rốt ráo Niết Bàn thì những khoái lạc và an vui tạm bợ trong vòng luân hồi này đều trở thành vô nghĩa.

Ghi chú:

[1] Asoka: A Dục Vương,

[2] Dịch giả chú thích: An action: dịch là nghiệp vì trong trường hợp này rõ ràng tác giả muốn nói là hành vi có tác ý. Mà hành vi có tác ý chính là nghiệp.

[3] Tam độc: ba độc tham sân si

[4] Sám hối lực: power of regret

[5] Thanh tịnh lực: power of purification

[6] Năng lực quyết tâm không tạo tác nghiệp ác: power of resolve not to engage in the non virtuous deed

Trích: HƯỚNG ĐẾN CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT

Nguyên Tác: THE WAY TO FREEDOM

Tác giả: ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA 14

Dịch giả: NGUYỄN THÚY PHƯỢNG

Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014

10 động cơ làm việc của người lao động mà các nhà quản lý nhân sự phải đặc biệt lưu ý

Người lao động nào cũng quan tâm đến Lương, Thưởng, Phúc lợi nhưng đó không phải là những yếu tố chính yếu khiến họ quyết định chọn công ty của bạn. Các nhà quản lý nhân sự là cần phải đặc biệt lưu ý 10 yếu tố dưới đây trong quá trình tuyển dụng, đào tạo nhân sự, đánh giá và giữ chân nhân tài

1. Lương, Thưởng, Phúc lợi là quan trọng nhưng chưa đủ

Hiện nay cơ hội phát triển cũng đóng vai trò quan trọng không kém khi được 22,01% người bình chọn (xấp xỉ với tiêu chí Lương, Thưởng, Phúc lợi ở mức cao nhất là 22,67%). Xét ở cấp độ nghề nghiệp, tiêu chí này càng được nhóm người mới đi làm đặc biệt quan tâm, thậm chí họ còn xem trọng Cơ hội phát triển hơn cả Lương, Thưởng, Phúc lợi.

Ngoài ra các hoạt động đào tạo nhân sự, văn hóa, đội ngũ lãnh đạo và chất lượng công việc/cuộc sống gộp lại cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong quyết định chọn Nơi làm việc của người đi làm.

Một trong những xu hướng nổi bật của người lao động là kỳ vọng về “Cơ hội phát triển” không dừng lại ở Thăng tiến nhanh

2. Ngoài Lương, còn nhiều hình thức tưởng thưởng đa dạng khác

Thu nhập của người lao động thường đến từ nhiều nguồn nhưng đa phần đều quan tâm đến mức lương cạnh tranh vì đây là thu nhập ổn định nhất.

Tuy nhiên hiện nay, Phúc lợi hấp dẫn và Thưởng công bằng cũng được lưu ý nhiều hơn.

Người lao động đến với doanh nghiệp vì lương, nhưng để tạo động lực và giữ chân họ hiệu quả, doanh nghiệp cần đa dạng hóa các nguồn thu nhập thay vì chỉ tập trung vào yếu tố Mức lương cạnh tranh mang tính truyền thống như trước đây.

Trong giai đoạn khảo sát chuyên sâu, đang có một sự dịch chuyển về tầm quan trọng từ các “yếu tố hấp dẫn tức thì” như Lương, Thưởng sang các “yếu tố giúp gắn kết lâu dài” như Tốc độ tăng lương, Công việc ổn định hay Thu nhập tương lai.”

Để một công ty trở nên hấp dẫn hơn trong tiêu chí Lương , Thưởng không dễ do sẽ tốn nhiều chi phí để thay đổi cả hệ thống lương thưởng của công ty.

Tuy nhiên để thay đổi “nhận thức” về sức hấp dẫn chung của công ty trong các hình thức tưởng thưởng cho nhân viên, chúng ta có thể áp dụng các phương pháp để tạo niềm tin và cam kết lâu dài ở nhân viên như thay vì tăng lương 1 lần/năm với mức tăng 10% thì nên 2 lần với 5% sẽ hiệu quả hơn vì điều đó thể hiện sự ổn định và kết quả kinh doanh tích cực của cty.

3. Kỳ vọng về “Cơ hội phát triển” không dừng lại ở thăng tiến nhanh

Thay vì chú trọng Lương, Thưởng, Phúc Lợi người lao động ngày càng bị cuốn hút bởi một công việc cho họ nhiều cơ hội phát triển. Tức là, phát triển về mặt kỹ năng và chuyên môn mà người lao động tích lũy được thông qua công việc hàng ngày chứ không phải là việc được thăng tiến nhanh ở chức vụ.

Điều này được thể hiện rõ khi 19,67% người sẽ chọn doanh nghiệp cho họ công việc thú vị với nhiều trải nghiệm đa dạng và chỉ có 5,52% người muốn làm việc cho cty mang đến cơ hội thăng tiến nhanh. Đây chính là những gợi ý để giúp nhân sự cải thiện hình ảnh Thương hiệu nhà tuyển đụng của mình thông qua các nhóm chính sách và hoạt động liên quan tới kỳ vọng này.

4. Kinh nghiệm làm việc quốc tế - Xu hướng nguyện vọng mới của người đi làm

Một xu hướng không thể phủ nhận là người lao động ngày càng quan tâm đến kinh nghiệm làm việc quốc tế, đặc biệt trong giai đoạn nền kinh tế mở cửa và cạnh tranh quốc tế ngày càng nhiều như hiện này. Kinh nghiệm làm việc quốc tế nên được hiểu đúng là Kinh nghiệm làm việc được chuẩn hóa ở tầm quốc tế.

Trong quá trình khảo sát chuyên sâu, một vài gợi ý chúng tôi ghi nhận để doanh nghiệp có thể đáp ứng tốt kỳ vọng của người đi làm ở tiêu chí này là tạo ra một ra một môi trường làm việc có đồng nghiệp, khách hàng là người nước ngoài, được sử dụng tiếng Anh thường xuyên trong công việc hàng ngày, được đi công tác, tham dự các khóa huấn luyện ở tầm khu vực…

5. Phương thức lãnh đạo của cả tổ chức quan trọng hơn tài năng của cá nhân lãnh đạo

Trong 6 nhóm tiêu chí đánh giá Thương hiệu nhà tuyển dụng, có tiêu chí Đội ngũ lãnh đạo. Tuy nhiên kết quả khảo sát khẳng định kỳ vọng của người đi làm về Đội ngũ lãnh đạo là ở phương thức lãnh đạo của cả tổ chức hay còn gọi là Organization leadership chứ không phải ở tài năng của một cá nhân lãnh đạo nào.

Vì vậy, ba yếu tố được người đi làm quan tâm nhất trong tiêu chí này gồm: Tầm nhìn gây cảm hứng, Chiến lược rõ rang, Phát triển và trao quyền cho nhân viên hoặc khả năng gắn kết nhân viên thì đòi hỏi nỗ lực của cả một tập thể lãnh đạo chứ không chỉ một cá nhân lãnh đạo.
Kết quả này một lần nữa khẳng định người đi làm đang mong muốn có nhiều cơ hội phát triển nên đòi hỏi lãnh đạo của họ cũng phải hỗ trợ cho nhu cầu đó.

Cùng với xu hướng mới của các công ty lớn ngày càng coi trọng vai trò của người hoạch định cơ cấu tổ chức hay trong nhân sự có vị trí Organization Development, mỗi lãnh đạo trong tổ chức cũng được kỳ vọng thể hiện tốt khả năng này.

6. Công bằng và tôn trọng là văn hóa quan trọng nhất

Văn hóa và giá trị là tiêu chí không thể thiếu làm nên tính hấp dẫn của một Thương hiệu nhà tuyển dụng. Mỗi doanh nghiệp sẽ xây dựng cho mình một nền văn hóa riêng nhưng kết quả khảo sát cho thấy có 9 nét văn hóa và giá trị có ảnh hưởng tới độ hấp dẫn của nhà tuyển dụng gồm: Chuyên nghiệp, công bằng và tôn trọng, ghi nhận và tưởng thưởng, tin cậy và minh bạch, tuyển dụng và đãi ngộ nhân tài, tinh thần đồng đội, Môi trường làm việc năng động và sáng tạo, con người thân thiện.

Khi tiến hành khảo sát trên diện rộng, chúng tôi tìm ra công bằng và tôn trọng là nét văn hóa quan trọng nhất. Đây chính là điều kiện cần để thu hút và giữ chân nhân tài. Chỉ có trên nền tảng của công bằng và tôn trọng, tùy từng doanh nghiệp, các nét văn hóa khác mới tạo nên sự khác biệt.

7. Công việc không thể tách rời chất lượng sống

Đối với người đi làm trước đây, công việc và cuộc sống là hai mặt khác nhau nhưng ngày nay Công việc không thể tách rời chất lượng sống. Thuật ngữ để thể hiện xu thế này là Life Careerism.

Xét ở góc độ khác biệt giới tính, nữ sẽ đặc biệt coi trọng khả năng quản lý và cân bằng khối lượng công việc trong khi cảm nhận về chất lượng công việc và cuộc sống của nam giới sẽ tốt hơn nếu có được trang thiết bị và đội ngũ hỗ trợ hiệu quả.

Kết quả này cũng giúp đưa ra cho doanh nghiệp giải pháp khi xây dựng các gói phúc lợi ngoài lương tiền, thành công của Thương hiệu nhà tuyển dụng sẽ thể hiện ở hai yêu cầu đa dạng và cụ thể, theo nhu cầu của từng đối tượng khi xét theo độ tuổi và giới tính.

8. Danh tiếng công ty là bảo chứng cho khả năng đáp ứng kỳ vọng của người đi làm

Trong tổng thể 6 yếu tố, tuy Danh tiếng công ty có tỷ trọng quan trọng thấp nhất nhưng đó lại là cơ sở cho những nhận định và đánh giá của người tìm việc về 5 yếu tố còn lại, đặc biệt trong giai đoạn người lao động đang tìm hiểu về công ty.

Những thông tin về một công ty như thế nào sẽ tác động trực tiếp lên đánh giá của người đi làm về cty đó có khả năng đảm bảo cho họ về lương, thưởng, phúc lợi như thế nào, cơ hội phát triển hay chất lượng công việc và cuộc sống ra sao.

Đây là cơ sở để công ty phối hợp việc truyền thông hình ảnh của mình với xây dựng Thương hiệu nhà tuyển dụng. Ví dụ, có sự liên quan chặt chẽ giữa hình ảnh của một công ty có quy mô lớn với khả năng đáp ứng tốt Lương, Thưởng, Phúc lợi hay hình ảnh của cty có nhiều nhãn hàng thành công với khả năng mang đến cơ hội phát triển thông qua nhiều trải nghiệm đa dạng…

9. Có nhiều khác biệt lớn trong lý do nhân tài đến và đi

Trong 10 yếu tố đóng vai trò quyết định cho việc đến và đi của nhân tài, có ba yếu tố thuộc về tiêu chí Lương, Thưởng, Phúc lợi. Điều này cho thấy dù có nhiều tiêu chí quan trọng khác nhưng Lương,
Thưởng, Phúc Lợi vẫn là tiêu chí được người đi làm quan tâm nhất.
Ngoài ra, mức lương cạnh tranh vẫn là nguyên nhân chủ chốt khiến nhân tài dứt áo ra đi. Vì các yếu tố khác mà doanh nghiệp đã xây dựng như văn hóa và giá trị, danh tiếng công ty … khó thay đổi theo thời gian trong khi mức lương cạnh tranh thì ngược lại.

Vì vậy, một trong những việc không thể thiếu để thu hút và giữ chân nhân tài là doanh nghiệp cần liên tục cập nhật mức lương trên thị trường để có chính sách lương phù hợp với nguyện vọng của người đi làm nhất trong khả năng có thể.

10. Còn nhiều khoảng cách về khả năng đáp ứng của doanh nghiệp và kỳ vọng thật sự của người đi làm

Khảo sát chuyên sâu cho thấy có sự khác biệt nhất định trong quan điểm giữa người làm Nhân sự và các phòng ban khác về tầm quan trọng của các tiêu chí.

Đây có thể là lý do dẫn đến khoảng cách về khả năng đáp ứng của doanh nghiệp và kỳ vọng thật sự của người đi làm. Tiêu biểu là khoảng cách lớn ở hai tiêu chí quan trọng Lương, Thương, Phúc lợi và Cơ hội phát triển.

Bài này mình không viết đâu, mình nhặt từ Báo đầu tư. 

Thứ Năm, 24 tháng 7, 2014

Thái độ không tốt, thất nghiệp là hiển nhiên

Một trong những câu hỏi thường gặp nhất khi các bạn đi phỏng vấn tuyển dụng là "Bạn/em hãy giới thiệu một chút về bản thân" và, đây cũng là câu hỏi khiến các nhà tuyển dụng đau đầu và thất vọng nhất. 

Khả năng tự nhận thức về bản thân của phần nhiều ứng viên, đặc biệt là ứng viên mới tốt nghiệp là khá lệch. Các bạn thường có xu hướng tự tin thái quá, cho rằng  mình có thể làm được nhiều việc, đặc biệt là sinh viên khối ngành kinh tế, quản trị. Còn đối với sinh viên đại học các ngành kỹ thuật khác, các bạn cũng có xu hướng đánh giá khả năng một cách cảm tính, chung chung và hơi quá với khả năng thực sự của mình. 

Phần lớn các bạn không có mục tiêu rõ ràng, không biết mình muốn gì, cần gì, dẫn đến hệ quả là học theo kiểu "càng nhiều càng tốt, càng cao càng tốt", "Học hỏi để có thêm kinh nghiệm" "học vì bố mẹ bảo thế" "học vì ai cũng học những thứ như thế"... chứ không có định hướng cụ thể. 

Tại sao lại như thế? 

Đầu tiên là lỗi của giáo dục, bao gồm cả giáo dục trong gia đình và giáo dục trong nhà trường. Những năm trước xã hội còn vin vào lý do không đủ thông tin về ngành học, về trường, về đầu ra... nhưng trong những năm gần đây câu chuyện đó không còn thuyết phục nữa. Có rất nhiều cảnh báo về dư thừa trong ngành ngân hàng và kinh tế tuy nhiên cha mẹ và học sinh vẫn đổ xô vào. Không tự lượng sức mình và không tự lượng dự báo chuyên môn. Tâm lý tìm việc an nhàn, lương cao, thực dụng vẫn chiếm đa số. Hệ quả là các em học sinh đổ xô vào các ngành “hot” nhưng bản thân mình lại không đủ tốt cho ngành đó. Thiết nghĩ, mỗi cá nhân nên tự hướng nghiệp cho cả cuộc đời, các bạn cần xem lại bản thân có thật sự cao như mình nghĩ hay không, nếu như trình độ các bạn chỉ làng nhàng thì không nên ảo tưởng hãy chấp nhận những công việc thấp hơn phù hợp với sức lực và khả năng. 

Thứ hai, các trường đại học có xu hướng quản lý không có tâm - học “dzỏm” và dạy giả chạy theo lợi nhuận, các bạn sinh viên từ những trường này sẽ không bao giờ qua được chốt chặt phòng nhân sự tại doanh nghiệp vì đơn giản họ là người bỏ tiền mua sức lao động. Họ có quyền từ chối và thải loại các ứng viên không đạt yêu cầu. Ngay cả trong thời kỳ hoàng kim của nền kinh tế, không phải cứ sinh viên ra trường là có việc. Giáo dục không làm cho người học hiểu rằng "học để làm việc" mà làm người học hiểu là học để "lấy bằng cấp" nên các bạn thường cho bằng cấp nghĩa là năng lực, nhưng sự thật đáng tiếc là với phương pháp đào tạo nặng về lý thuyết như chúng ta, bằng cấp không đồng nghĩa với năng lực làm việc. Đấy là chưa kể đến việc mua bằng, mua điểm...


Đổ hết cho giáo dục thì chưa đúng bởi sản phẩm của giáo dục là con người, mà con người thì có quyền tự quyết định riêng. Có thể nói, học sinh sinh viên - sản phẩm của nền giáo dục là sản phẩm của bảy phần do mình, ba phần do gia đình và nhà trường. Nhưng, đa phần các bạn khá bị động, thích dựa dẫm, lười suy nghĩ, thích "la cà chém gió", ảo tưởng về khả năng thiên phú của chính mình, hy vọng "may mắn từ trên giời rơi xuống"... Không còn là chuyện đáng ngạc nhiên nếu trong giờ hành chính, mật độ các bạn trẻ ngồi quán cà phê, trà chanh còn đông hơn thư viện; thường trực online mạng xã hội than thân trách phận, đổ lỗi do trời... Các bạn sẽ "đi về đâu", chẳng ai biết, có lẽ là bố mẹ sẽ lo, hoặc không lo thì... chịu.

Cử nhân thì thất nghiệp "đầy đường" nhưng doanh nghiệp muốn tìm người thì tìm không ra. Chưa xét đến vấn đề lương hay đãi ngộ tại các doanh nghiệp mà vấn đề ở đây là đa phần các cử nhân, những bạn trẻ mới tốt nghiệp ngày nay luôn ngại xa, ngại khó, mời đi phỏng vấn còn không muốn đi và cũng chẳng có thái độ tôn trọng người sử dụng lao động (không tới phỏng vấn, một cú điện thoại thông báo cũng sợ tốn; tới phỏng vấn, thì đánh giá cơ sở vật chất nọ kia, đánh giá nhà tuyển dụng, trả lời thì vòng vo, nói quá khả năng của mình...) trong khi bạn chưa có đủ kiến thức, kinh nghiệm đáp ứng được các yêu cầu của họ. Cho nên, chỉ trong vòng mấy năm trở lại đây, từ dư thừa 72 ngàn cử nhân, thạc sĩ không có việc làm, phải làm nghề bán nước, quét vôi con số ấy đã tăng vọt khủng khiếp 162,4 ngàn người có trình độ từ đại học trở lên đang thất nghiệp. 

Truyền thông xã hội cũng đóng một vai trò rất quan trọng, tác động đến thái độ của đông đảo học sinh, sinh viên Việt Nam hiện nay trên con đường tìm việc. Nếu bạn là người thường xuyên dùng mạng xã hội, thường xuyên đọc báo mạng hay ít nhất cũng thường xuyên hóng hớt chốn đông người như mình, bạn sẽ thấy: Thứ nhất, các phương tiện thông tin hiện nay đề cập đến quá nhiều vấn đề vớ vẩn kiểu hot girl này nọ, lộ hàng, cướp, hiếp, giết, hôi của,... đó chưa phải là các thông tin hữu ích đối với bạn đọc và đặc biệt, tần suất xuất hiện của những tin tức kiểu đó đang ngày càng tăng lên ảnh hưởng xấu đến nhận thức của các bạn về thế giới bên ngoài.  Thứ hai, có quá nhiều tấm gương trẻ thành công được vinh danh không phải do lao động mà ra, hoặc nếu do lao động mà có thì cách vinh danh cũng không chỉ rõ được những sự nỗ lực, gắng công thực sự của người đó khiến các bạn trẻ lầm tưởng cuộc sống đơn giản chỉ có thế và lạc lối trong mớ bòng bong thông tin rác. Từ những ảo tưởng về cuộc sống, đề cao vai trò của việc tạo dựng các mối quan hệ, nhiều bạn sinh viên đã không tập trung phát triển kỹ năng, kiến thức mà sa vào các sự hào nhoáng về bằng cấp, mối quan hệ, tiền bạc, danh vọng mà quên mất: "Chỉ có sự phát triển tự nội lực của bản thân mới là sự phát triển bền vững nhất!" 

Ngoài những nguyên nhân về kinh tế, việc "Hướng nghiệp kỹ càng - Chọn trường phù hợp - Học đàng hoàng - Hiểu thấu đáo - Làm nghiêm túc" có tác động rất lớn đến việc các bạn trẻ có thất nghiệp hay không. 

Chúc các bạn may mắn. 
 - Nhanvienmoi bt

Chủ Nhật, 13 tháng 7, 2014

10 bài học quan trọng nhất cho độ tuổi 20

Lối suy nghĩ và hành động trong độ tuổi từ ngoài 20 đến dưới 30 có thể ảnh hưởng không nhỏ đến tương lai nghề nghiệp và cuộc sống sau này của bạn. Dưới đây là 10 bài học mà bạn nên cân nhắc áp dụng nếu đang ở trong độ tuổi này:

1. Những việc bạn làm ở độ tuổi 20 sẽ định nghĩa bạn là ai

Độ tuổi từ 20 đến dưới 30 là giai đoạn có ảnh hưởng lớn nhất trong đời. Nền móng mà bạn xây dựng trong độ tuổi này sẽ định nghĩa phần còn lại trong cuộc đời của bạn. Bởi thế, bà Jay thúc giục những nhân viên đang ở độ tuổi này nhìn nhận mọi chuyện một cách nghiêm túc.

2. Những trách nhiệm của người trưởng thành khiến bạn hạnh phúc hơn

Nhiều người trẻ tuổi có thể không muốn tìm một “công việc thực sự” hoặc sống tự lập. Tuy nhiên, chuyên gia tâm lý Jay nhấn mạnh, có những việc liên quan tới trách nhiệm của một con người trưởng thành làm bạn cảm thấy hạnh phúc và đem tới cho bạn mục đích sống.

3. Hãy tìm công việc tốt nhất có thể

Nếu bạn đầu tư sớm vào sự nghiệp, bạn sẽ có nhiều thời gian hơn để xây dựng cho mình một sự nghiệp thành công. Theo tiến sỹ Jay, 70% tăng trưởng lương đạt được trong 10 năm đầu tiên của sự nghiệp, nên bạn cần tìm công việc tốt nhất có thể và hãy đàm phán mức lương để được trả xứng đáng nhất.

4. Không đưa ra lựa chọn cũng là một lựa chọn

Nhiều người trong độ tuổi 20 không biết họ muốn làm gì, nên thường lãng phí thời gian vào những công việc “không ra đâu vào đâu”, thậm chí không tìm việc làm. “Những người trong độ tuổi 20 cứ nghĩ họ đang để ngỏ các lựa chọn cho mình, nhưng thực ra họ đang đóng lại những cánh cửa”. Lý lịch công việc của những người như thế bắt đầu trở nên nghèo nàn, họ bắt đầu bị đồng nghiệp vượt lên, và rốt cục họ sẽ bị rơi vào cảnh thất nghiệp nửa chừng.

5. Sẽ mất thời gian để bạn trở thành một nhân viên giỏi

Những người trong độ tuổi 20 mới bắt đầu đi làm sẽ mất khoảng 10.000 giờ đồng hồ, tương đương khoảng 5 năm làm việc, để thực sự có tay nghề. Nếu bạn băn khoăn không biết vì sao mà các đồng nghiệp dường như quá hiểu công việc và tự tin, đó một phần là do họ đã có thời gian làm việc lâu hơn bạn. Những người trẻ cố gắng học hỏi nhiều nhất có thể trong công việc đầu tiên và nhớ rằng, sẽ phải mất thời gian để thực sự giỏi việc.

6. Có cách nhìn thoáng hơn

Bộ não của lứa tuổi 20 vẫn đang phát triển thùy trước, bà Jay cho biết. Đây là thùy não chịu trách nhiệm điều chỉnh các cảm xúc. Thực tế này cùng với kinh nghiệm nghề nghiệp còn non kém khiến những người trong độ tuổi 20 nhạy cảm hơn trước những điều ngạc nhiên và những lời chỉ trích. Họ thường có xu hướng nhìn nhận những nhận xét bằng quan điểm cá nhân, và “thổi phồng” trong suy nghĩ những chuyện xảy ra.

7. Nghiêm túc trong các mối quan hệ tình cảm

Nhiều người kết hôn muộn, nhưng điều đó không có nghĩa là tình yêu trong độ tuổi 20 nên bị xem nhẹ. Tuổi 20 là quãng thời gian mà bạn nên học cách làm thế nào để có những mối quan hệ lành mạnh. Điều đó có nghĩa là hẹn họ với những người có phẩm chất phù hợp cho một mối quan hệ lâu dài, và không trì hoãn chuyện yêu đương chỉ vì bạn nghĩ bạn có thể hoặc nên làm như thế.

8. Suy nghĩ chín chắn về chuyện “sống thử” trước hôn nhân

Tỷ lệ sống thử ở Mỹ đã tăng 15 lần kể từ năm 1960 tới nay. Ngày nay, có tới 7,5 triệu cặp đôi ở nước này chung sống mà chưa đăng ký kết hôn, và hơn một nửa tất cả các cuộc hôn nhân là kết quả của một thời gian “sống thử”. Những cặp đôi còn trẻ thường không trao đổi rõ ràng với nhau về việc “sống thử” có ý nghĩa như thế nào đối với mối quan hệ của họ.

“Rất dễ để “sống thử”, nhưng bước ra khỏi cuộc sống đó thì không dễ như thế”.

9. Nên nghĩ sớm về kế hoạch hóa gia đình

Phần đông những người trong độ tuổi trên 20 đến dưới 30 không nghĩ tới chuyện sinh đẻ có kế hoạch như thế nào. Những người trẻ tuổi vẫn nghĩ mình có nhiều thời gian để lập gia đình. Trên thực tế, khả năng sinh sản của con người giảm mạnh sau tuổi 35 và “lao dốc” sau tuổi 40. Đây không chỉ là vấn đề của nữ giới mà của cả nam giới. Tinh trùng của nam giới có tuổi thường không khỏe, và người vợ sẽ khó thụ thai hơn.

10. Thay đổi bộ não cho toàn bộ cuộc đời

Bộ não của con người chưa trưởng thành hoàn toàn cho tới khoảng 25 tuổi, nhất là những phần của bộ não chịu trách nhiệm lên kế hoạch cho tương lai và kiểm soát các cảm xúc.

Điều đó không có nghĩa là bạn chỉ ngồi chờ não phát triển. Trên thực tế, những gì bạn học được và trải nghiệm trong độ tuổi 20 sẽ gắn chặt vào bộ não của bạn, và quãng thời gian này chính là cơ hội tốt nhất để bạn điều chỉnh bộ não, thay đổi cách bạn suy nghĩ và phản ứng trước các sự vật, sự việc. “Những gì mà mọi người làm trong độ tuổi 20 sẽ quyết định họ là ai khi họ thực sự trưởng thành”.

-sưu tầm-

Viết về cuộc sống: Chúng ta là những cứu tinh của chính mình

 
Lâu rồi nhân viên mới không viết gì cả, có lẽ cũng đến cả năm rồi. Sau một năm nhảy việc lung tung, lặp đi lặp lại bài ca nhân sự mới, hòa nhập môi trường mới, học tập quy định mới, những con người mới... NVM rút được không ít bài học cho chính mình, trong đó, có một bài học mang tên "Chúng ta là những cứu tinh của chính mình": 
*************
Một hôm một người trẻ tuổi lại gần Ðức Phật và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, cha con chết. Xin mời Ðức Phật đến và cầu nguyện cho cha con, cứu độ linh hồn ông ấy để ông ấy có thể đi lên thiên đàng. Những người Bà La Môn cử hành những nghi thức này, nhưng Ðức Phật lại còn mạnh hơn họ nhiều. Nếu Ngài sẽ làm điều đó, chắc chắn hồn cha con sẽ bay thẳng về thiên đàng”.

Ðức Phật trả lời, “Rất tốt, hãy đi ra chợ và đem về cho ta hai cái bình đất và một ít bơ”. Người trẻ tuổi sung sướng vì Ðức Phật đã hạ cố thi hành một số thần thông để cứu linh hồn cha của mình. Anh ta vội vã đi ra phố và mua các thứ mà Ðức Phật bảo. Ðức Phật chỉ dẫn cho anh ta để bơ vào một bình và để đá vào bình kia. Rồi ném cả hai bình đó xuống ao. Người trẻ tuổi làm theo và cả hai bình đều chìm xuống đáy ao. Rồi Ðức Phật tiếp tục: “Bây giờ hãy lấy một cái gậy và đập vỡ hai bình đó ở dưới ao”. Người trẻ tuổi làm theo. Hai cái bình bị đập vỡ và bơ thì nhẹ đã nổi lên còn hòn đá vì nặng nên vẫn ở dưới đáy ao.

Rồi Ðức Phật nói: “Bây giờ nhanh lên đi tập họp tất cả những thầy tu. Hãy nói với họ đến và tụng kinh để bơ chìm xuống và viên đá nổi lên.” Người trẻ tuổi nhìn Ðức Phật, sửng sốt, nói, “Bạch Ðức Thế Tôn, Ngài có nói thật không ạ. Chắc chắn Ngài không thể trông chờ bơ nhẹ mà chìm và đá nặng mà nổi. Ðiều đó ngược lại với quy luật tự nhiên.”

Ðức Phật mỉm cười và nói: “Này con, con đã thấy nếu cha con có một cuộc đời LƯƠNG THIỆN thì những HÀNH VI của ông cũng nhẹ như bơ cho dù thế nào thì ông cũng lên thiên đàng. Không ai có thể cản được, ngay cả đến ta. Không ai có thể chống lại NGHIỆP luật thiên nhiên.

Nhưng nếu cha ngươi có một cuộc đời BẤT THIỆN thì cũng giống như hòn đá nặng, cha ngươi sẽ bị chìm vào địa ngục. Dù tụng kinh nhiều đến đâu đi nữa bởi tất cả các thầy tu trên thế giới này cũng không thể thành khác được.”

Người trẻ tuổi hiểu rõ. Anh thay đổi quan niệm sai lầm của anh và ngừng đi loanh quanh đòi hỏi cái không thể được.

Nụ cười của Ðức Phật đã đi tới điểm: Không ai có thể cứu chúng ta, sau khi chúng ta chết. Theo NGHIỆP luật, chúng ta là sở hữu chủ của những hành vi của chúng ta, chúng ta là người thừa hưởng những hành vi của chúng ta. Những hành vi của chúng ta thực sự là tài sản của chúng ta. Chúng là chỗ nương tựa thực sự của chúng ta, là những thân nhân thực sự của chúng ta. Chúng là trung tâm từ đó chúng ta xuất phát.

Khi chúng ta chết, chúng ta không mang được dù chỉ có một xu với chúng ta, hay bất cứ thứ đồ gì của cá nhân chúng ta. Cũng chẳng có thể mang được một trong những người thân để cùng đi với chúng ta. Giống như chúng ta đến một mình theo NGHIỆP của chúng ta thì chúng ta cũng phải ra đi một mình.

Nếu chúng ta hiểu rõ NGHIỆP luật, thì chúng ta sẽ cảm niệm thấy sống một cuộc đời LƯƠNG THIỆN quan trọng đến như thế nào trong khi chúng ta còn sống. Ðợi đến lúc chết thì sẽ quá muộn. Có một chút gì đó có thể làm được.

(Trích từ sách Chết trong an bình – Tỳ Kheo Visuddhacara)

Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2013

Tại sao bạn bị thất nghiệp mà không cánh cửa nào mở?

Thời gian những năm gần đây nếu bạn đọc báo và có để ý về tình hình kinh tế, việc làm của xã hội bạn sẽ thường xuyên thấy có cụm từ gần giống sau đây xuất hiện;

Nhất hậu duệ, nhì quan hệ, ba tiền tề, thứ tư mới là trí tuệ.

Có lẽ không cần phải phân tích câu này, mọi người đều dễ dàng hiểu. Trong nhiều hoàn cảnh, câu đó là sự mỉa mai, lúc khác lại là sự ca thán, chán nản về tình hình thực tại, một số khác qui tội cho xã hội xuống cấp, giáo dục bại hoại,… Những góc nhìn tiêu cực sẽ không giải quyết vấn đề nếu bạn là đang là sinh viên và bạn mong muốn rằng khi ra trường bạn có một công việc bằng khả năng của bạn, và không muốn tham gia vào những chiêu trò mang tính tiêu cực.

Từng là một sinh viên, tôi xin chia sẻ một số kinh nghiệm của bản thân để các bạn sinh viên có thể tham khảo, và có thể một ngày nào đó bạn cũng sẽ mỉm cười giống tôi “mình thật là may mắn“.

Bạn không cần phải là một người có IQ cao, siêng năng hơn hẳn mọi người. Nói chung, là một người bình thường nhưng bạn đã thi đỗ vào một trường đại học không danh tiếng lắm như kiểu FTU – ĐH Ngoại thương (được mệnh danh là Harvard của Việt Nam) nhưng cũng không đến nỗi tai tiếng. Như vậy, bạn đã là trong số 20% người của tốp trên các thí sinh vượt qua được kỳ thi. Một thành tích không tệ đến nỗi phải bi quan phải không nào?

Okie, giờ thì bạn đã là sinh viên rồi và nếu bạn đang là sinh viên năm nhất, tôi sẽ không nói với bạn nhiều, mà bạn nên đọc bài này để hiểu những gì đang chờ đợi mình. Tôi sẽ chỉ chia sẻ những gì tôi đã trải qua khi bước vào học chuyên ngành (tức từ năm 3 trở đi) nhưng cũng sẽ điểm qua được thời của tôi như thế nào để các bạn có được sự mường tượng.

Tôi học trung học phổ thông ở một thành phố biển quê nhà, một trường cũng được gọi là “có số má” chỉ xếp sau trường chuyên. Thời cấp hai, tôi có thể đứng trong tốp 10 của lớp, nhưng những năm cấp 3, học ở môi trường lạ, hơn nữa bắt đầu có những việc lộn xộn trong tâm sinh lý, tôi đâm ra học hành kém hẳn, năm nào cũng xếp nhất hoặc hai từ dưới đếm lên. Bố mẹ thì không bao giờ có quan niệm định hướng hoặc ép buộc con sẽ theo ngành nghề nào khi vào đại học. Và việc sẽ vào đại học nào cũng chẳng phải là điều quan tâm của tôi lúc ấy, suốt ba năm cấp 3, tôi chỉ quan tâm là làm thế nào để có thể hút thuốc lá phả khói ra hình trái tim để loè mấy em ở quán cà phê và công việc mỗi ngày sau giờ lên lớp là loay hoay với mấy chú chim cảnh. Cho đến một ngày, cái ngày mà cả lớp thảo luận sẽ làm gì vào ngày học cuối cùng (của đời học sinh) cho có ý nghĩa. Ngày này, bây giờ năm nào báo chí cũng tranh thủ làm hàng tá ảnh và thi nhau vung vít, toàn nói về chuyện nữ sinh, nam đẹp xấu gì đó, khóc ra sao,…  mà chẳng có mấy bài thử phỏng vấn một vài cô cậu xem cô cậu đang chuẩn bị gì cho cuộc đời. Tôi cuống cuồng điền vào đơn dự thi đại học để nộp lên Sở Giáo dục và Đào tạo (bởi ở trường không còn nhận nữa). Thực sự, tôi không có bất cứ khái niệm nào về việc vào đời, chọn trường đại học ra sao, và phần lớn bạn bè của tôi cũng thế, trừ những đứa có anh chị đang là sinh viên hoặc sống trong một gia đình trí thức. Bố tôi bảo rằng nếu tôi không đi học đại học, ông sẽ cho vài chỉ vàng và cho mượn một mảnh đất để nuôi heo để có kế sinh nhai nuôi thân. Điều lạ lùng là nhà tôi chẳng có ai làm nông dù sống ở nông thôn. Các bạn có thể buồn cười nhưng tôi sợ phải tắm cho heo (về sau này tôi biết nỗi sợ đó không phải là sợ con heo, mà là sợ mùi thuốc thú y) nên tôi đành phải nộp đơn dự thi đại học, và tôi cũng thích vọc máy tính nên khi mở quyển “những điều cần biết” ra, tôi chọn ngành nào nghe có vẻ “công nghệ thông tin” nhưng tuyển sinh khối C. Thật may làm sao, sau vài tuần học mấy môn học bài Văn, Sử, Địa và đi thi như bao thí sinh khác, tôi đường hoàng trở thành một sinh viên. Năm học đầu tiên tôi chỉ nhớ được môn thú vị nhất là môn… Quân sự, còn thì không có tượng gì các môn còn lại. Năm thứ hai tình hình cũng gần tương tự. Trong hai năm đó tôi làm gì? Những sinh viên VN đi du học, SV, giảng viên nước ngoài đến VN qua sát và đưa ra nhận định “hầu hết SV Việt Nam trải qua một kỳ nghỉ dài vô cùng thoải mái“, tôi đồng ý với nhận định này. Hai năm đó, những lúc trong túi rủng rỉnh tôi dạo quanh các quán thịt chó gần khu Thảo cầm viên Sài Gòn, hoặc ngồi café Văn Khoa, lúc đói kém hơn, tôi ghé các tiệm sách cũ để mua các loại tiểu thuyết ba xu chữ to như gà mái để về đêm đêm nằm đọc, có 1 học kỳ tôi nghỉ nguyên để “luyện chưởng” với mớ sách đó.

Năm thứ 3, rất may là vào học chuyên ngành thường xuyên phải làm bài tập, thuyết trình này nọ nên việc học vô tình bị thúc đẩy, lúc này khó có việc chơi cả học kỳ đợi đến khi thi nếu không muốn bị thi lại. Tôi cũng kịp nhận ra rằng không lúc này sẽ không còn lúc nào để tôi có cơ hội kịp bổ sung thêm một số kiến thức để để “ăn tục nói phét” khi ra trường. Tôi lại nghĩ đến những con heo (chưa mua) ở quê nhà, thế là cũng có nỗ lực một chút, điểm trung bình học kỳ của học kỳ 4 đến học kỳ 8 cao hơn học kỳ 1 đến 4 là 1 điểm (tức 7,2 so với 6,2). Cho hết năm 3, tôi cũng chưa hình dung mình sẽ làm gì sau khi tốt nghiệp, chỉ có kỳ kiến tập ngắn vẽ ra cho tôi một số hình dung nhỏ nhoi về công việc sẽ làm.  Cũng có vài dạng bài tập gọi là “nghiên cứu khoa học”, vài sinh viên đăng ký làm chung một cái. Như các bạn khác, tôi cũng tham gia cho vui.  Cái này trông vô bổ về mặt khoa học bởi viết nhăng viết cuội phần nhiều, nhưng tôi cũng cho rằng nó hữu ích vì áp lực hoàn thành, phải đi làm khảo sát, điều tra, thu thập tài liệu,… làm cho những thành viên trở nên năng động hơn. Năm 4, nhiều bạn cùng lớp lo loay hoay trả nợ môn, tôi may mắn hơn vì không bị rớt môn nào nên cũng khá thảnh thơi. Đi thực tập là niềm vui sướng, công việc thực tế cũng không có gì hấp dẫn tôi, điều tôi thấy thú vị là ở trong sân cơ quan thực tập có vài loại cây ăn trái, tôi lại là một cậu nhóc hiếu động, nên việc trèo lên cây chỉ là chuyện nhỏ, hơn nữa, lớp toàn con gái, tôi cũng muốn “biểu diễn một chút kỹ năng của một thằng con trai xuất thân từ nông thôn” 

Một cơ hội việc làm đến một cách rất vô tình bắt nguồn từ việc tôi phá hỏng chiếc máy in kim (sau hơn 10 năm tôi vẫn còn nhớ tên máy in đó là Epson LQ-2180) bằng cách vẽ một con thỏ và bỏ tờ giấy học trò vào in. Tin phá hoại của tôi bay nhanh từ nhóm thực tập về khoa… Nhờ “thành tích” ấy, tôi được một cô giáo dạy tôi đề nghị một công việc làm thêm ngoài giờ (có lẽ cô nghĩ rằng tôi có thể xoay xở được với chiếc máy photocopy khá cũ ở đấy, hay là muốn nó hỏng hẳn để có thể đề nghị cơ quan mua máy mới không chừng?!)

Kinh nghiệm ở chỗ nào, sao không thấy chia sẻ? Đọc đến đây có thể bạn nổi giận về việc tôi cho bạn ăn quả lừa và viết rất dông dài, chém gió, bốc phét nổ trời?!. Thực sự, bạn đang được tôi training về tính kiên nhẫn và khả năng đọc hiểu đấy 

- Tôi có tham gia công tác xã hội chủ yếu là lúc đó ham vui và bị rủ rê chứ tôi không khoái lắm các hoạt động của Đoàn trường (tổ chức quản lý nó là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đấy). Cụ thể làm gì? Đi phát bánh trung thu, tham gia vài mùa chiến dịch tình nguyện Mùa Hè Xanh và cùng một thằng bạn học báo chí đi làm vài thứ chuyện vớ vẩn như nhặt bọc rác, vệ sinh kênh rạch (nói đúng hơn là đi… móc bùn).

- Tôi có tham gia vài câu lạc bộ; thực sự, tôi không biết hát, cũng chẳng biết múa, nói hẳn là lĩnh vực văn nghệ và nghệ thuật xem như mù tịt, chẳng biết gì. Nhưng tôi có đi tới những quán cà phê mà ở đó người ta chơi chim, đánh cờ, đọc sách hoặc truyền bá những thứ lúc đó còn mới mẻ; bán hàng đa cấp.

- Tôi cũng có đi làm thêm; dọn dẹp một căn phòng chứa đầy sách cũ để họ dùng căn phòng đó vào việc khác và được trả công rất rẻ bèo nhưng vui vì ở đó có một chiếc máy tính có trò WarCraft II (còn gọi là đế chế), giờ nghỉ trưa tôi có thể ngồi đó và kéo quân chinh phạt này nọ. Thêm một số việc linh tinh khác như được các bạn nữ SV thuê làm xe ôm chở đi tới bệnh viện Từ Dũ, Hùng Vương hoặc cái chỗ Bà mẻ trẻ em quái quỉ nào đó ở đường Cao Thắng; đánh máy văn bản / soạn PowerPoint thuê.

Và còn nhiều công việc lặt vặt khác không nhớ nổi hoặc vì lý do nào đó mà tôi không tiện liệt kê ra đây.

Vậy, những thứ linh tinh chẳng liên quan gì đến việc học – là nhiệm vụ hàng đầu của người sinh viên để làm gì? Tôi và một anh bạn từng tranh luận. Anh ấy đi con đường của anh ấy, tôi đi con đường của tôi. Ở đây tôi cho rằng không có đúng hay sai, cả hai cách đều ổn nếu chúng ta hiểu rằng việc học dù sao thì cũng là một cách trang bị hành trang để vào đời chứ không phải là một thứ trang sức để thể hiện rằng ta đây là trí thức hoặc có chút chữ nghĩa. Anh bạn tôi không hề đi làm thêm, không tham gia bất cứ hoạt động xã hội, làm thêm việc nào. Anh ấy học rất chăm, đến độ tóc quên cắt, thuê phòng trọ với cự ly rất gần trường để tận dùng phòng học trống, thư viện của trường cho việc học. Và anh ấy cũng thông minh nữa (đánh cờ khá giỏi, viết lách và trình bày các thứ rất logic, làm test IQ điểm cao). Anh ấy lý luận; thay vì mày đi làm thêm kiếm tiền, tao học chăm và lĩnh một lần vài loại học bổng khác nhau, cái nào hơn? Tôi mới hỏi; thế mày định sẽ làm gì trong tương lai? Anh ấy bảo; tao sẽ làm một nhà khoa học hoặc bét ra thì cũng làm một công việc liên quan đến viết lách, nghiên cứu, biên soạn từ điển. Tôi bảo; tao không học chăm như mày được, và tao cũng không thể ráng sức cỡ nào để có được 10 điểm môn mỹ học như mày, vậy mày nói xem, tao sẽ như thế nào? Sau khi tranh luận thì đi đến ngã ngũ; anh ấy và tôi cùng đồng ý rằng mỗi người có một con đường riêng, miễn con đường đó là đi bằng đôi chân của mình.

Sau này, khi ngồi vào vị trí của một người tuyển dụng, tôi mới thấy rằng những việc mình làm thời sinh viên, tưởng rất vô bổ, chủ yếu là ham vui nhưng vô tình nó là những công việc hữu ích, nó mang đến những thứ sau;
.

1. Tạo lập và rèn luyện cho bạn một số kỹ năng mềm; gặp gỡ người nọ người kia, nhìn thấy công sở người ta làm việc ra sao, công ty lớn – nhỏ, chỗ làm kinh doanh nhỏ, kinh tế hộ gia đình hoặc đơn giản là một cái xe nước mía,… người ta làm ăn như thế nào. Nếu bạn ở trong một gia đình mà phải sớm phải làm lụng vất vả để mưu sinh, thì những thứ như tôi nói là quá xoàng xĩnh, nhưng nếu bạn hồi giờ chỉ học hành thì bạn thấy sự thể là bạn bớt gà đi nhiều nhiều.

2. Tạo lập được các mối quan hệ xã hội; biết được người nọ người kia, ai là “tay tổ” trong nghề nào, những vụ xì-căn-đan nào từng xảy ra, điều gì là đáng tự hào về nghề nghiệp mình sẽ thay đổi, những gì “đạo đức nghề nghiệp” nên tránh, cám dỗ là gì,… Việc có lợi trước mắt; dễ tìm được chỗ xin thực tập và có thể kiếm được công việc trước khi tốt nghiệp.

3. Phát hiện ra một số khả năng của bản thân mà bạn chưa bao giờ từng biết đến; tôi chưa bao giờ nghĩ rằng tôi có thể cầm đầu một nhóm các bạn khi đi chiến dịch tình nguyện Mùa Hè Xanh, và nhóm của tôi là một trong những nhóm được xem là có sức mạnh nhất, làm được nhiều việc ra trò nhờ sự đoàn kết. Tôi cũng không bao giờ nghĩ rằng bằng việc đi lang thang vào những buổi học quá tẻ nhạt, tôi đã vô tình học được việc sửa xe máy, thui rơm một con chó như thế nào, cho đến việc lắp ráp một chiếc máy tính PC dạng desktop, dù tôi là dân khoa học xã hội, đến việc cắt cổ gà còn không làm được…

4. Học đại học khác với học cấp 4 hay học phổ thông; bạn có thể thu nhận một số thứ sách giáo khoa không cung cấp mà bằng việc mài đũng quần ở giảng đường, các câu lạc bộ, thậm chí là quán cà phê của các giảng viên, sinh viên; những nơi sinh hoạt như thế này tuy kiến thức về học thuật và các cuộc tranh luận còn lâu mới được như nước ngoài mà ta đọc thấy trong sách (diễn thuyết như ở công viên Hyde Park của nước Anh chẳng hạn) nhưng nó cũng là những kiến thức mang hơi hướm “hàn lâm” một chút, cũng kích thích đầu óc bạn chịu suy nghĩ một chút. Tôi chỉ có thể tóm tắt tôi học được sự khác nhau lớn nhất ở phương Đông và phương Tây, và ngày nay người ta đang học hỏi, bổ sung lẫn nhau. Vì sao phương Tây lại là mảnh đất của khoa học, và phương Đông là mảnh đất của tâm linh? Bạn tự tìm câu trả lời đi nhé. Biết cái này, khi gặp một người đến từ bên kia bán cầu bạn sẽ không cảm thấy sốc hoặc làm cho họ sốc.

…. và còn rất nhiều thứ nữa nhưng bài viết có hạn, tôi sẽ có lúc khác đề cập.

Nếu đứng ở vai trò người tuyển dụng, bạn sẽ nhận ra rằng bạn thích tuyển được những người từng tham gia công tác xã hội, thiện nguyện. Khi vị trí cần tuyển là  lãnh đạo, quản lý, bạn còn thích thấy được trong CV ứng viên có những dòng thể hiện họ là một thủ lĩnh thực sự của một nhóm nào đó hơn là việc họ lộ ra rằng họ từng được đặt vào ghế nào đó bởi có ông bố/ bà mẹ làm chức vụ nọ kia.

Một sinh viên mới ra trường, bạn cảm thấy nản lòng khi ở đâu cũng đòi hỏi kinh nghiệm, làm sao ghi vào trong CV và kinh nghiệm ở đâu ra? Thực sự, trừ những vị trí đặc biệt, trong mẩu tin tuyển dụng người ta ghi rõ kinh nghiệm 2-3 năm hoặc hơn, còn thì họ không ghi gì hoặc ghi 1 năm, bạn có thể đáp ứng yêu cầu đấy. Tại sao? Những việc như tôi kể ở trên, tôi ghi đàng hoàng vào hồ sơ của tôi là tôi có kinh nghiệm 10 tháng khi nộp hồ sơ bởi cả thời gian thực tập và làm việc bán thời gian cộng lại, đúng 10 tháng, nếu tôi thích mập mờ câu chữ, tôi có thể ghi hẳn là “gần 01 năm”, ai dám bắt bẻ nào?

Sau khi đọc hết bài trên, bạn có tìm ra nguyên nhân vì sao bạn nộp hồ sơ ở nhiều nơi mà không ai gọi cho bạn?

Một cách vô tình và vì công việc, tôi có trao đổi với số người làm công tác tuyển dụng khác, tôi có một phát hiện nhỏ muốn chia sẻ cùng bạn; đừng để bạn có một quãng trống nào trong CV của bạn, bạn phải bằng mọi giá có được việc làm dù nó có thể không phù hợp với chuyên môn môn của bạn, kể cả những công việc bán thời gian. Rất nhiều hồ sơ ứng viên bị loại ngay vòng gửi xe bởi nó có những đoạn “lủng lỗ”, bỏ trống thời gian kiểu “thất nghiệp trắng”.

Cuối cùng, bạn thấy bạn có may mắn không? Bạn cũng nhận ra rằng may mắn có được cũng đến từ sự chuẩn bị? Nếu may mắn, hãy cùng tôi đi uống bia hơi với đậu phộng rang muối nào.

— ráng thêm một chút… —

Mấy ông thầy bói nói có lý “cuộc đời của con ít gập ghềnh, đi đâu, làm gì cũng có quý nhân phò trợ tuy có thể không giầu sang, vinh hiển nhưng kiếm ăn dễ dàng chẳng phải nghĩ suy nhiều“


Quang Võ - Nhân Viên Mới st